- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Th - V (Thay đổi NC)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28/8/2018 V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hiền
2. Ông Nguyễn Văn Quý
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Phương - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP.Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Phương Quý
- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2018/ TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2018 về “Thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04 ngày 21/8/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị T , sinh năm 1989
HKTT: SN ...HT, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH
Nơi ở: Phòng ..., nhà ..., chung cư ĐP, phường ĐV, thành phố TH, tỉnh TH
- Bị đơn: Anh Hà Tuấn V , sinh năm 1979
HKTT và nơi ở: SN ...HT, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trương Văn C
Địa chỉ: Phòng ..., nhà ..., chung cư ĐP, phường ĐV, thành phố TH
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Hoa N
Địa chỉ: Số ... CT, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Mai Thị T trình bày: Tại bản án số 28/2017/HNGĐ- ST ngày 21/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” Tòa án đã quyết định: Về phần con chung “Chấp nhận sự thỏa thuận giữa chị và anh V , sau khi ly hôn anh V trực tiếp nuôi cả hai con chung của chị và anh V là cháu Hà Mai A , sinh ngày 20/4/2011 và Hà Gia B , sinh ngày 20/7/2014, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh V mỗi cháu 750.000đ một tháng cho tới khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cấm”
Từ sau khi ly hôn đến nay hai con do anh V trực tiếp nuôi dưỡng, các con được nuôi dưỡng đảm bảo. Tuy nhiên đến nay chị thấy, với thời gian và tính chất công việc của mình anh V không thể chăm sóc con được tốt, do anh V liên tục vắng nhà (đi làm tại huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình) nên ít khi có thời gian về nhà gần gũi các con cũng như không có thời gian chăm sóc đưa đón con, phần lớn thời gian các cháu ở với ông bà nội. Thời gian gần đây ông bà nội chăm sóc các cháu không được tốt và luôn cản trở việc thăm nom con của chị. Về phần chị, đến nay đã có cuộc sống ổn định, hiện công việc của chị là nhà phân phối của Công ty TNHH Thiên Sư Việt Nam (Công ty bán hàng đa cấp TIENS) và làm dịch vụ tiêm truyền tại nhà, thu nhập 10.000.000đ/tháng; Về nơi ở, chị đã được bố mẹ chồng giao quyền quản lý sử dụng nhà chung cư tại khu đô thị ĐP, thành phố TH diện tích 46,94m2. Vì vậy chị có thể đảm bảo tốt cho việc nuôi dạy con. Mặt khác, cháu Hà Mai A là con gái nên chị T muốn được chăm sóc cháu. Do vậy chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi cả hai con chung Hà Mai A , Hà Gia B và đề nghị anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Nếu anh V cũng xin nuôi con thì chị đề nghị Tòa án giao cho chị và anh V mỗi người nuôi một con chung không ai phải cấp dưỡng nuôi con với ai. Đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con từ khi ly hôn tới nay chị chưa thực hiện do sau khi ly hôn cuộc sống của chị gặp nhiều khó khăn, chị sẽ giao cho anh V toàn bộ trong ngày xét xử việc thay đổi nuôi con.
Về phía bị đơn Hà Tuấn V , tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, anh V thống nhất với trình bày của chị T về quyết định của bản án số 28/2017/HNGĐ- ST ngày 21/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Từ sau khi ly hôn đến nay anh là người trực tiếp nuôi con và luôn chăm lo việc học tập giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, các con khỏe mạnh ngoan ngoãn và phát triển tốt. Bản thân anh có nơi ăn ở ổn định. Về công việc, từ năm 2014 đến nay anh làm việc tại Công ty TNHH Daekwang Vina thu nhập bình quân 12.000.000đ/tháng, làm việc trong giờ hành chính, được nghỉ chủ nhật và lễ tết theo Luật lao động. Do vậy anh có đủ điều kiện về nơi ăn ở, thời gian, thu nhập để đảm bảo tốt nhất cho việc nuôi dưỡng chăm sóc con cả về vật chất và tinh thần. Về phía chị T , từ đó đến nay không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng với anh, anh đã làm đơn yêu cầu Thi hành án để đảm bảo quyền lợi cho con nhưng chị T vẫn không thực hiện. Anh cho rằng chị T không có công việc ổn định, thu nhập không đảm bảo nên không cấp dưỡng nuôi con; Về nơi ở, hiện tại chị T đã có chồng mới, vợ chồng chị ở nhờ nhà chung cư của bố mẹ chồng, nhà chật hẹp (46,94m2) bất tiện, như vậy không thể đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất của con. Từ những lý do như trên nên anh không đồng ý để chị T nuôi con.
Tại bản tự khai ngày 24/4/2018 tại Tòa án cháu Hà Mai A xin cho cháu và em Gia B được ở với bố.
Ngày 24/7/2018, Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương và tham khảo ý kiến của Hội phụ nữ địa phương nơi anh V , cháu Mai A , Gia B đang sinh sống. Theo địa phương cho biết: Từ khi anh V chị T ly hôn, anh V trực tiếp nuôi con, các con được chăm sóc chu đáo về điều kiện vật chất và tinh thần, được học tập đầy đủ, các con ngoan, phát triển tốt, cuộc sống ổn định do vậy nên để anh V tiếp tục trực tiếp nuôi cả hai cháu Hà Mai A và Hà Gia B .
Tại phiên hòa giải ngày 01/8/2018, chị T không có mặt, sau đó chị Tc , anh V đều đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa ngày 21/8/2018, anh V vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa, đồng thời ấn định thời gian mở phiên tòa lần thứ 2 vào 13 giờ 30 phút ngày 28/8/2018.
Tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ QVLIHP của chị T xin không tham gia tố tụng bảo vệ QVLIHP cho chị T , chị T đồng ý tự bảo vệ QVLIHP của mình. Về nội dung vụ án, chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Người bảo vệ QVLIHP cho anh V và anh V giữ nguyên quan điểm như trình bày trên.
Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX; việc chấp hành pháp luật của chị T , anh V , kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định. Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 69,71,81- Luật HN&GĐ, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa nhận định: [1] Về tố tụng: Cháu Hà Mai A và Hà Gia B là con chung của chị T và anh V . Sau khi chị T , anh V ly hôn, anh V trực tiếp nuôi cả hai con chung, hiện tại các cháu đang sinh sống cùng anh V tại địa chỉ SN ...HT, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH. Như vậy, chị T khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, TAND thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 - Bộ luật TTDS.
Về nội dung: Chị Mai Thị T và anh Hà Tuấn V có 2 con chung là Hà Mai A , sinh ngày 20/4/2011 và Hà Gia B , sinh ngày 20/7/2014. Tại bản án số 28/2017/HNGĐ- ST ngày 21/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” Tòa án đã quyết định “Về phần con chung, chấp nhận sự thỏa thuận giữa chị T và anh V , sau khi ly hôn anh V trực tiếp nuôi cả hai con chung là cháu Hà Mai A và cháu Hà Gia B , chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh V mỗi cháu 750.000đ một tháng cho tới khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị T có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cấm”. Từ sau khi ly hôn đến nay hai cháu Hà Mai A và Hà Gia B do anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Đến nay chị T đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi con vì xét thấy anh V không đủ điều kiện để nuôi con được tốt do anh V đi làm xa nhà không trực tiếp chăm sóc con. Về phần chị có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc con. Anh V không nhất trí và tha thiết xin được tiếp tục trực tiếp nuôi cả hai con chung.
Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của chị T và anh V là hoàn toàn chính đáng. Song, về phía chị T , công việc hiện tại của chị T là bán hàng đa cấp (không có chứng cứ chứng minh về công việc và thu nhập nào khác), công việc và thu nhập thấp, không ổn định. Từ khi ly hôn đến nay chị T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do sau khi ly hôn cuộc sống của chị gặp nhiều khó khăn, tại phiên tòa chị cũng không thực hiện việc giao tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh V như đã có quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy thể hiện chị T chưa làm tròn nghĩa vụ, thiếu trách nhiệm đối với con và về điều kiện vật chất chị chưa đảm bảo để nuôi con tốt hơn. Đối với việc chị T cho rằng anh V công tác xa nhà, không có thời gian gần gũi đưa đón con, tính chất công việc và quỹ thời gian như vậy anh V không thể chăm sóc con được tốt, không đủ điều kiện nuôi con. HĐXX xét, anh V làm việc tại Công ty TNHH Daekwang Vina tại huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình từ năm 2014, năm 2017, anh V chị T ly hôn anh V vẫn đang làm việc tại Ninh Bình, với tính chất công việc xa nhà, nhưng chị T đã không nuôi con, để cả hai con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, dù con chưa đủ 36 tháng tuổi. Nay chị T nêu lý do tính chất công việc và quỹ thời gian như vậy anh V không đủ điều kiện chăm sóc con được tốt để xin thay đổi việc nuôi con, là không thỏa đáng.
Về phía anh V , từ khi anh V chị T ly hôn, hai cháu Hà Mai A , Hà Gia B do anh V trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu được quan tâm chăm sóc việc học tập, giáo dục, phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, các cháu khỏe mạnh, ngoan ngoãn và phát triển tốt. Bản thân anh V có nơi ở ổn định, có công việc, thu nhập ổn định, có thời gian để chăm sóc con cái; Anh cũng tha thiết xin được tiếp tục trực tiếp nuôi cả hai con chung và tha thiết mong muốn cho hai cháu được ở cùng nhau; Cháu Hà Mai A cũng có nguyện vọng xin được ở với bố và em. Như vậy, anh V có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.
Do đó, để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của cháu Hà Mai A và Hà Gia B , tránh xáo trộn không tốt đến cuộc sống của các cháu, HĐXX xét tiếp tục giao hai cháu Hà Mai A và Hà Gia B cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của chị T về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con là không phù hợp với quy định tại Điều 84 - Luật Hôn nhân và Gia đình nên không có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280
Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 81, 84 - Luật Hôn nhân và gia đình
Khoản 1 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 Ban thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn của chị Mai Thị T đối với anh Hà Tuấn V .
Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị T , anh Hà Tuấn V có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hịên theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND TP. Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |