vanban.org

Bản án 72/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 12/10/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Triều D về thay đổi việc nuôi con; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Triều D"
  • Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 12-10-2018
V/v tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông La Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Lan;

2. Bà Lê Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Thanh Phước, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8

năm 2018 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình – Thay đổi người trực tiếp nuôi

con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

135/2018/QĐXXST-HN ngày 10 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên

tòa số 158/2018/QĐST- HN ngày 27/9/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Triều D, sinh năm 1987, nơi cư trú: ấp A, xã H,

huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện tại: Singapore 732693.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Th, sinh năm 1984, nơi cư trú: ấp M, xã

M, thành phố L, tỉnh An Giang.

2 đương sự vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Lê Thị Triều D trình bày:

Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự số 118/2014/QĐST-HNGĐ ngày 02/6/2014 của Tòa án nhân dân

thành phố L:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Triều D và ông Nguyễn Hoàng Th thuận

tình ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung chưa trưởng thành tên Nguyễn Hoàng

Kh, sinh ngày 11/9/2008 và Nguyễn Hoàng Gia Kh1, sinh ngày 08/4/2011.

- Ông Nguyễn Hoàng Th được tiếp tục nuôi dưỡng 2 con chung tên

Nguyễn Hoàng Kh, sinh ngày 11/9/2008 và Nguyễn Hoàng Gia Kh1, sinh ngày 08/4/2011.

- Ông Nguyễn Hoàng Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Ông Nguyễn Hoàng Th phải tạo điều kiện để cho bà Lê Thị Triều D

được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, việc nuôi con không cố định.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có

Sau khi có quyết định ly hôn cho đến nay, ông Nguyễn Hoàng Th trực

tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Hoàng Kh và Gia Kh1 và có thời gian ông Th gửi 02 cháu cho ông, bà nội và ông, bà ngoại nuôi dưỡng.

Bà D khởi kiện yêu cầu nuôi 01 con tên Nguyễn Hoàng Gia Kh, sinh ngày

08/4/2011 để có điều kiện chăm sóc, dạy con. Về cháu Nguyễn Hoàng Kh được nuôi dạy tốt, bà D không có yêu cầu.

Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tại tờ trình bày ý kiến ngày 13/8/2018, bị đơn ông Nguyễn Hoàng Th

trình bày:

Đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà D

thì ông đồng ý giao cháu Nguyễn Hoàng Gia Kh1, sinh ngày 08/4/2011 cho bà Lê Thị Triều D được trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của cháu Nguyễn Hoàng Gia Kh1 được ghi ngày 17/8/2018: Cha

là Nguyễn Hoàng Th, mẹ là Lê Thị Triều D. Hiện cháu Kh1 đang sinh sống cùng với ông bà nội và ông bà ngoại, một tuần ở với ông bà nội, một tuần ở với ông bà ngoại. Do điều kiện làm ăn, ba Nguyễn Hoàng Th không trực tiếp nuôi cháu Kh1. Cháu Kh1 đồng ý sống với mẹ Lê Thị Triều D.

Tại phiên tòa, do các đương sự đều vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố

đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và ý kiến của cháu Nguyễn Hoàng Gia Kh1.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi việc nuôi con, bị đơn thừa nhận

không có điều kiện nuôi con và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về cháu Nguyễn Hoàng Gia Kh1 có nguyện vọng được mẹ Lê Thị Triều D trực tiếp nuôi dạy.

Kiểm sát viên cho rằng hoạt động của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư

ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cháu Nguyễn Hoàng Gia Kh1 cho nguyên đơn nuôi dạy và không cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về tố tụng: Bà Lê Thị Triều D hiện tại đang cư trú tại Singapore kiện

thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn

Hoàng Th, cư trú tại xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, thẩm quyền giải quyết

thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35 và

điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn không yêu cầu Tòa án thông báo kiểm tra

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Áp dụng khoản 4 Điều

207 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành thủ tục này và không

thông báo kết quả phiên họp cho các đương sự.

Các đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1

Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng

mặt các đương sự.

Về nội dung, xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được nuôi con Nguyễn Hoàng Gia

Kh1, sinh ngày 08/4/2011, cho rằng bị đơn đi làm ăn xa, không có điều kiện trực

tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

Bị đơn đã thừa nhận lời khai của nguyên đơn và có văn bản chấp nhận

theo yêu cầu của nguyên đơn. Mặt khác, cháu Nguyễn Hoàng Gia Kh1 đồng ý

được sống với nguyên đơn.

Áp dụng khoản 1 và điểm a, b khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như theo đề nghị

của Kiểm sát viên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi

con, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Theo điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14

thì việc bà Lê Thị Triều D yêu cầu thay đổi việc nuôi con không phải nộp tạm

ứng án phí, nhưng có sai sót phát hành giấy báo nộp tạm ứng án phí.

Yêu cầu của bà Lê Thị Triều D được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 26

của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 buộc bị đơn phải chịu án phí. Tuy

nhiên, bà D đã nộp tạm ứng án phí và tự nguyện chịu án phí thay bị đơn, chấp

nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 83, khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Triều D về thay đổi

việc nuôi con;

1. Buộc ông Nguyễn Hoàng Th giao cháu tên Nguyễn Hoàng Gia Kh1,

sinh ngày 08/4/2011 cho bà Lê Thị Triều D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Nguyễn Hoàng Th được gặp gỡ, thăm nom con chung. Không ai

được ngăn cản việc gặp gỡ, thăm nom và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con chung khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có

quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Ông Nguyễn Hoàng Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

3.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Công nhận sự tự nguyện chịu án phí của

bà Lê Thị Triều D.

Bà Lê Thị Triều D chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn

nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009973 ngày 16/8/2018 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà Lê Thị Triều D và ông Nguyễn Hoàng Th được quyền kháng cáo để

yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại

Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ