vanban.org

Bản án 719/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc V. Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Quốc V.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D và Hoàng Hà A; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; 1. Áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; Các điểm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Lệ P1 - phạm tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (điều 222 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc V. Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Quốc V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 222 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 719/2023/HS-PT
Ngày 25 tháng 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công

Các thẩm phán:

Ông Đỗ Đình Thanh

Ông Vương Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 210/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Thị Thúy N và 04 bị cáo khác, do các bị cáo kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Hoàng Thị Thúy N, sinh ngày 08/5/1975 tại tỉnh Bắc Giang; Thường trú: P.3008 Tòa Diamond Flower, số 48 Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: P.3008 Tòa Diamond Flower, số 48 Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội và căn hộ 12L chung cư Leman 115-117 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chủ tịch Hội đồng sáng lập NSJ Group; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 48 ngày 17/5/2021 của Ủy ban kiểm tra Quận ủy Hoàng Mai; Con ông Hoàng Trọng Lạc (chết) và bà Đặng Thị Tiến; Có chồng tên Lê Anh Tú (đã ly hôn) và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội phạt 12 năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Hồ Phương Q, sinh ngày 01/01/1983 tại tỉnh Cà Mau; Thường trú: Số 80/5, Tổ 5, Khu vực 2, Lê Hồng Phong, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Chuyên viên Ban Quản lý dự án Sở Y tế Cần Thơ; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị khai trừ theo Quyết định số 404-QĐ/UBKTTW ngày 19/01/2022 của Ủy ban kiểm tra Trung ương; Con ông Hồ Thế Thủy và bà Nguyễn Phương Thảo; Có chồng tên Trần Anh Huy và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng vi phạm pháp luật; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Ngọc Hồng P, sinh ngày 14/6/1983 tại tỉnh Bình Định; Thường trú: 11.02 Lô B, chung cư Ngô Tất Tố, Phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số 446/4/19 Nguyễn Thái Sơn, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Trưởng phòng Kinh doanh, Trưởng Ban Kiểm soát kiêm Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty NSJ; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Ngọc Sang và bà Ngô Thị Hòa; Có chồng tên Nguyễn Hoàng Quân và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng vi phạm pháp luật; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

4. Phùng Thị D, sinh ngày 05/10/1986 tại tỉnh Hải Dương; Thường trú: Thôn An Tứ, xã Quang Trung, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Phòng 14.04 B2 HUD2 Tây Nam Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nguyên Trưởng phòng Dự án, Công ty NSJ; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn Thành và bà Đồng Thị Son; Có chồng tên Bùi Đức Lấn và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng vi phạm pháp luật; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

5. Hoàng Hà A, sinh ngày 21/12/1981 tại Thành phố Hà Nội; Thường trú: Tổ dân phố số 4 Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Phòng 1802 Tháp C, chung cư Golden Place, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nguyên Tổng Giám đốc Công ty Bình An; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 30-QĐ/UBKT ngày 14/12/2022 của Ủy ban kiểm tra Quận ủy Nam Từ Liêm; Con ông Hoàng Văn Hóa (chết) và bà Nguyễn Thị Hằng; Có vợ tên Ngô Thị Phương Nga và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng vi phạm pháp luật; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa:

- Bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Thúy N: Luật sư Lê Văn Hà, Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Pathlaw thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội - Có mặt;

- Bào chữa chỉ định cho bị cáo Hồ Phương Q: Luật sư Đỗ Hải Bình, Văn phòng luật sư Quốc Anh thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt;

- Bào chữa cho bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P: Luật sư Hồ Nguyên Lễ, Giám đốc Công ty Luật Tín Nghĩa thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt;

- Bào chữa cho bị cáo Phùng Thị D:

+ Luật sư Nguyễn Thị Lan Phương, Trưởng Văn phòng luật sư Lan Phương thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng - Có mặt;

+ Luật sư Nguyễn Thanh Bảo Duy, Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên D&K thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Bào chữa chỉ định) - Có mặt;

- Bào chữa cho bị cáo Hoàng Hà A:

+ Luật sư Phạm Danh Tín - Vắng mặt;

+ Luật sư Nguyễn Thị Khánh Linh - Có mặt;

Văn phòng luật sư Danh Tín thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội.

Người định giá: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Bộ Y tế;

Ông Nguyễn Tử H, Chủ tịch Hội đồng - Có văn bản xin vắng mặt;

Địa chỉ: 138A Giảng Võ, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội;

Ngoài ra còn có 15 bị án khác, 01 bị hại và 137 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sở Y tế thành phố Cần Thơ (viết tắt Sở Y tế Cần Thơ) trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, do Bùi Thị Lệ P1 làm Giám đốc từ năm 2011 đến ngày 01/12/2019 và Cao Minh C làm Giám đốc từ ngày 01/01/2020. Các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế Cần Thơ gồm có: Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ (viết tắt là Bệnh viện Nhi), Bệnh viện Tim mạch thành phố Cần Thơ (viết tắt là Bệnh viện Tim) và Ban Quản lý dự án các công trình Sở Y tế Cần Thơ (viết tắt là Ban QLDA). Quyết định số 2460/QĐ-SYT ngày 04/10/2018 của Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ thành lập Ban QLDA, do Cao Minh C - Phó Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ phụ trách. Ban QLDA có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu của Sở Y tế Cần Thơ để giao dịch, là đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên, hoạt động dưới hình thức trực tiếp quản lý các dự án hoặc thuê tổ chức tư vấn quản lý tùy theo điều kiện; có nhiệm vụ chuẩn bị hồ sơ dự án đầu tư, báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình để chủ đầu tư trình cấp thẩm quyền thẩm định, phê duyệt; chuẩn bị hồ sơ thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình để chủ đầu tư trình cấp thẩm quyền thẩm định, phê duyệt; lập hồ sơ mời dự thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, đàm phán trước khi trình Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ ký kết hợp đồng với các nhà thầu… Hội đồng thẩm định hồ sơ mời thầu, kết quả đấu thầu mua sắm trang thiết bị thuộc Sở Y tế Cần Thơ do Bùi Thị Lệ P - Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ thành lập, có nhiệm vụ tham mưu, báo cáo Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ về việc thẩm định hồ sơ mời thầu, kết quả xét thầu mua sắm trang thiết bị và đánh giá hồ sơ dự thầu; Cao Minh C là Chủ tịch Hội đồng, thành viên Hội đồng là các Phó Giám đốc khác và các Trưởng phòng trực thuộc Sở Y tế Cần Thơ. Nhiệm vụ của từng thành viên do Cao Minh C phân công, tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tập đoàn Hành trình Thành công mới (viết tắt là NSJ Group) thành lập ngày 09/9/2019 do Hoàng Thị Thúy N làm Chủ tịch Hội đồng thành viên (chiếm tỷ lệ 80% vốn góp), Kim Trọng Đ làm Tổng Giám đốc (chiếm tỷ lệ 20% vốn góp), Lê Huy B làm Phó Tổng Giám đốc. Từ tháng 12/2015 đến tháng 9/2019, NSJ Group thành lập các công ty, gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn NSJ; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đầu tư và Thương mại MQF; Công ty Bình An; Công ty Cổ phần công nghệ mới Thái Dương; Công ty Trách nhiệm hữu hạn đồ chơi Poliese; Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại SUN SEA LAND. Tiền thân Công ty Trách nhiệm hữu hạn NSJ (viết tắt Công ty NSJ) là Công ty Cổ phần Tư vấn và Thương mại Bắc Nam, được Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký ngày 23/6/2014; Trụ sở chính tại Tầng 3, tòa nhà văn phòng số 40 đường 62, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh; Công ty đăng ký thay đổi 16 lần; Năm 2015, Hoàng Thị Thúy N chiếm 81% cổ phần; Năm 2017, đại diện theo pháp luật là Trần Ngọc T, Hoàng Thị Thúy N chiếm 73,75% cổ phần; Từ ngày 04/5/2018, đại diện theo pháp luật là Lê Huy B, Hoàng Thị Thúy N chiếm 72,20% cổ phần; Đến ngày 30/12/2019, đại diện theo pháp luật là Lê Huy B, Hoàng Thị Thúy N chiếm 80% cổ phần, Kim Trọng Đ chiếm 20% cổ phần; Kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có trang thiết bị, dụng cụ y tế. Công ty Cổ phần Công nghệ kỹ thuật Bình An (viết tắt Công ty Bình An) được Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký ngày 15/6/2015; Trụ sở chính tại Tầng 2, tòa nhà văn phòng số 40 đường 62, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh; Hoàng Thị Thúy N làm Giám đốc và góp 90% vốn; Ngày 18/01/2019 đăng ký thay đổi lần thứ 7, Hoàng Hà A làm Tổng Giám đốc; Kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có trang thiết bị, dụng cụ y tế. Mặc dù trên Giấy phép đăng ký kinh doanh các công ty trên là các pháp nhân độc lập, nhưng thực chất đều do Hoàng Thị Thúy N bỏ vốn thành lập và chỉ đạo, điều hành hoạt động. N trực tiếp tuyển dụng, bổ nhiệm, sắp xếp nhân sự, trả lương, chỉ đạo các công ty ký các hợp đồng mua bán trong nội bộ nâng khống giá thiết bị dự thầu, đứng tên nhà thầu…

Công ty Cổ phần Thẩm định giá BCT VALUE được Sở Kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 09/01/2012, Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá ngày 19/8/2015, người đại diện theo pháp luật là Đặng Xuân M.

Công ty Liên doanh Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn y tế Mediconsult Việt Nam, đại diện theo pháp luật là Nguyễn Thị D1 làm Tổng Giám đốc; Vũ Quang N1 làm Phó Tổng Giám đốc; hoạt động nhiều lĩnh vực, trong đó có tư vấn lập hồ sơ mời dự thầu, tư vấn đánh giá hồ sơ dự thầu.

Từ năm 2017 đến năm 2019, Sở Y tế Cần Thơ làm chủ đầu tư 04 gói thầu cung cấp trang thiết bị y tế, bao gồm: 01 gói thầu 01/2017 cho Bệnh viện Tim và 03 gói thầu cho Bệnh viện Nhi, gồm: Gói thầu số 05/2018, Gói thầu số 05/2019 và Gói thầu số 10/2019. Các bị cáo: Bùi Thị Lệ P - Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ, Cao Minh C - Phụ trách Ban QLDA đã thông đồng với Hoàng Thị Thúy N - Chủ tịch Hội đồng thành viên NSJ Group, Vũ Quang N1 - Phó Tổng Giám đốc Công ty Mediconsult, Đặng Xuân M - Tổng Giám đốc, Nguyễn Quốc V - Phó Tổng Giám đốc Công ty BTC VALUE đã can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu, từ khâu đề xuất chủ trương đầu tư dự án, lập dự án, lập dự toán, bố trí vốn, thẩm định giá, lập hồ sơ mời thầu, để công ty NSJ và Công ty Bình An của Hoàng Thị Thúy N trúng 04 gói thầu nêu trên, với tổng trị giá là 89.974.000.000 đồng, gây thiệt hại cho Nhà nước 32.674.251.138 đồng. Cụ thể như sau:

1. Đối với Gói thầu số 01/2017 cung cấp Hệ thống DSA hai bình diện thuộc dự án Bệnh viện Tim mạch thành phố Cần Thơ:

1.1. Hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu, gian lận, không đảm bảo công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu:

Ngày 06/6/2017, ông Võ Thành T1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cùng Bùi Thị Lệ P và Lãnh đạo Sở Kế hoạch Đầu tư thành phố Cần Thơ có buổi làm việc với Bệnh viện Tim để nghe báo cáo về nhu cầu trang thiết bị y tế, trong đó có thiết bị hệ thống DSA hai bình diện (hệ thống chụp mạch máu số hóa nền DSA hai bình diện đầu thu phẳng). Trên cơ sở đề xuất của Bệnh viện, Sở Y tế Cần Thơ, Sở Kế hoạch đầu tư, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ có Công văn số 222/TB-VPUB thông báo kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, có nội dung: “Giao Sở Y tế Cần Thơ tham mưu đề xuất phải có dự án mua sắm gửi Sở Kế hoạch Đầu tư; Giao Sở Kế hoạch Đầu tư thẩm định nhu cầu, khả năng, nguồn vốn và tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cho chủ trương giải quyết trong năm 2017. Thời gian thực hiện trong tháng 6/2017”.

Nắm được nhu cầu này, Hoàng Thị Thúy N đến nhờ ông T1 giúp đỡ, giới thiệu để Công ty NSJ tham gia các gói thầu tại Sở Y tế Cần Thơ và được ông T1 đồng ý thì Hoàng Thị Thúy N đến gặp Bùi Thị Lệ P và Cao Minh C để chào hàng Hệ thống DSA hai bình diện với giá 38 tỷ đồng, kèm Catalogue, cấu hình kỹ thuật.

Khi được P và C đồng ý để Công ty NSJ cung cấp Hệ thống DSA hai bình diện, N đã giao cho Nguyễn Viết H - Giám đốc phụ trách kinh doanh Khu vực miền Tây của Công ty NSJ và Lê Thành H1 - Nhân viên phòng Kinh doanh làm đầu mối liên hệ, tiếp nhận các yêu cầu, cung cấp các tài liệu cho Sở Y tế Cần Thơ. Về phần P và C thì giao cho Lương Tấn T2 - Chuyên viên Ban QLDA phụ trách gói thầu làm đầu mối trao đổi, thông báo các yêu cầu để Công ty NSJ phối hợp cung cấp tài liệu, lập hồ sơ xin chủ trương đầu tư, phê duyệt kế hoạch vốn, dự toán, kế hoạch tổ chức đấu thầu. T2 là người dự thảo, ký nháy các văn bản trình P và C duyệt, ký các văn bản liên quan xin chủ trương đầu tư dự án, các thủ tục triển khai thực hiện gói thầu.

Theo chỉ đạo của bị cáo N, nhằm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu khác, tạo lợi thế để NSJ bán Hệ thống DSA hai bình diện với giá 38 tỷ đồng, Phùng Thị D - Trưởng phòng Dự án NSJ và Đoàn Thị N2 - Phó Trưởng phòng Dự án NSJ đã cung cấp các thông số kỹ thuật về cấu hình Hệ thống DSA hai bình diện của Công ty Siemens với giá 38 tỷ đồng và các báo giá cho Nguyễn Viết H và Lê Thành H1, để các đối tượng này chuyển tiếp cho Lương Tấn T2 sử dụng lập hồ sơ, báo cáo, đề xuất.

Thông tin về các báo giá được Lê Thành H1 chuyển trước qua Email cho Lương Tấn T2 sử dụng khi chưa có bản in, không ghi ngày tháng, gồm: Báo giá của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Vật tư Khoa học Kỹ thuật: 38 tỷ đồng; Bản chào hàng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đầu tư Giải pháp Công nghệ: 38,1 tỷ đồng; Biểu giá chào của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Đầu tư T&N: 37,9 tỷ đồng. Nhận thấy các báo giá, thông số kỹ thuật còn sơ sài, Lương Tấn T2 yêu cầu Lê Thành H1 tiếp tục cung cấp Bảng tính năng kỹ thuật chi tiết và 03 báo giá mới, gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại Trần Lê giá 40 tỷ đồng; Công ty Bình An: 38 tỷ đồng; Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu khoáng sản: 40,5 tỷ đồng. Các báo giá đều được Phùng Thị D và Đoàn Thị N2 soạn thảo sẵn, kèm tính năng kỹ thuật, nhờ các pháp nhân (có quan hệ làm ăn với Hoàng Thị Thúy N) đóng dấu hợp thức, chuyển cho Nguyễn Viết H, Lê Thành H1 cung cấp cho Lương Tấn T2 sử dụng.

Mặc dù các báo giá đều không ghi đầy đủ thời gian báo giá, địa điểm báo giá, thông tin các đơn vị báo giá, địa bàn áp dụng, báo giá đã hết hiệu lực… không đủ cơ sở, tính pháp lý để sử dụng xác định giá thiết bị Hệ thống DSA hai bình diện theo giá thị trường như quy định tại điểm c khoản 4 Điều 47 Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư công, nhưng Lương Tấn T2 vẫn sử dụng cùng với các thông số kỹ thuật được cung cấp, để lập sẵn Biên bản họp Hội đồng Khoa học công nghệ và Tờ trình để chuyển cho Bệnh viện Tim ký hợp thức. Do đã được P và C gọi điện đề nghị tạo điều kiện cho công ty của Hoàng Thị Thúy N bán Hệ thống DSA hai bình diện với giá 38 tỷ đồng, nên ông Trần Quốc L - Giám đốc Bệnh viện Tim ký Tờ trình số 179/TTr-BVTM ngày 09/6/2017 đề nghị Sở Y tế Cần Thơ có chủ trương mua sắm Hệ thống DSA hai bình diện với giá khoảng 38 tỷ đồng.

Sau khi có Biên bản họp Hội đồng Khoa học công nghệ và Tờ trình số 179 của Bệnh viện Tim, từ ngày 16/6/2017 đến ngày 27/7/2017, Cao Minh C với tư cách là Phó Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ, Trưởng Ban QLDA ký công văn, Tờ trình gửi Sở Khoa học công nghệ về việc thống nhất danh mục mua sắm, xin chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn Hệ thống DSA hai bình diện, xác định tổng mức đầu tư 40.594.816.000 đồng, với chi phí thiết bị là 38 tỷ đồng.

Trên cơ sở tài liệu do Sở Y tế Cần Thơ cung cấp, Sở Kế hoạch đầu tư có văn bản gửi Sở Tài chính Cần Thơ (viết tắt Sở Tài chính) và các sở có liên quan, để các đơn vị này đóng góp ý kiến về các nội dung thuộc lĩnh vực mình quản lý, như: Dự kiến tổng mức đầu tư và cơ cấu tổng mức đầu tư, xác định sơ bộ các chi phí có liên quan trong quá trình thực hiện, nhưng Sở Tài chính và các sở liên quan đều không có ý kiến về tổng mức đầu tư 40.594.816.000 đồng, chi phí thiết bị là 38 tỷ đồng. Sở Kế hoạch đầu tư có Báo cáo số 2141/BC-SKHĐT ngày 10/8/2017 gửi Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, báo cáo kết quả thẩm định Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án Hệ thống DSA hai bình diện với tổng mức đầu tư 40.594.816.000 đồng, chi phí thiết bị 38 tỷ đồng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, ông Võ Thành T1 ký Tờ trình số 88/TTr-UBND ngày 15/8/2017 gửi Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Hệ thống DSA hai bình diện; Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ có Công văn số 319/HĐND-TT thống nhất chủ trương đầu tư dự án Hệ thống DSA hai bình diện, tổng mức đầu tư là 40.594.816.000 đồng.

Ngày 11/9/2017, Bùi Thị Lệ P ký hợp đồng số 119/HĐTV với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Xây dựng Thương mại Kiến Thiết (viết tắt Công ty Kiến Thiết) về việc tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án Hệ thống DSA hai bình diện với tổng dự toán là 39.778.978.000 đồng, trong đó chi phí thiết bị là 38 tỷ đồng, dựa trên các báo cáo giá do Lương Tấn T2 yêu cầu Lê Thành H1 cung cấp, như đã nêu trên.

Phó Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ Cao Minh C ký Tờ trình số 2862/TTr-SYT ngày 05/10/2017 gửi Sở Kế hoạch Đầu tư về việc phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án Hệ thống DSA hai bình diện. Sở Kế hoạch Đầu tư có Báo cáo số 2905/BC-SKHĐT ngày 27/10/2017 gửi Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ về việc báo cáo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án Hệ thống DSA hai bình diện, tổng mức đầu tư là 39.778.978.000 đồng, trong đó chi phí thiết bị là 38 tỷ đồng. Ngày 27/10/2017, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ có Quyết định số 2824/QĐ-UBND về việc giao Kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư năm 2017 từ nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương cho dự án Hệ thống DSA hai bình diện thuộc Bệnh viện Tim, tổng mức vốn cấp cho dự án cân đối được trong năm 2017 là 200 triệu đồng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, ông Võ Thành T1 ký Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án Hệ thống DSA hai bình diện, tổng mức đầu tư là 39.778.978.000 đồng.

1.2. Hành vi gian lận trong đấu thầu, thông đồng lập chứng thư thẩm định giá khống:

Trên cơ sở đề nghị của Cao Minh C và Lương Tấn T2, Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ Bùi Thị Lệ P và Đặng Xuân M - Tổng Giám đốc Công ty BTC VALUE ký Hợp đồng thẩm định giá số 9217.294/HĐTĐG-BTCVALUE ngày 30/10/2017, giá trị hợp đồng là 57.000.000 đồng. Ngày 03/11/2017, các thẩm định viên: Đặng Xuân M, Nguyễn Quốc V cùng Lê Anh T3 là chuyên viên thẩm định Công ty BTC VALUE ký phát hành Chứng thư thẩm định giá, mã hồ sơ 9217.294/CT-BTCVALUE, định giá Hệ thống DSA hai bình diện là 37.995.000.000 đồng.

Toàn bộ hồ sơ chỉ định thầu gói thầu cung cấp dịch vụ thẩm định giá đều được Lương Tấn T2 soạn thảo, đưa cho các thành viên Hội đồng thẩm định Sở Y tế Cần Thơ ký hợp thức. Lương Tấn T2 thông báo với Lê Thành H1 là Công ty BTC VALUE là đơn vị thẩm định giá và cung cấp số điện thoại của Nguyễn Duy H2 - nhân viên Công ty BTC VALUE, để H1 tự trao đổi, cung cấp tài liệu cho H2. Phùng Thị D, Đoàn Thị N2 soạn sẵn các báo giá kèm tính năng kỹ thuật, sau đó nhờ các pháp nhân (có quan hệ làm ăn với Hoàng Thị Thúy N) đóng dấu hợp thức, rồi gửi cho Nguyễn Viết H, Lê Thành H1 cung cấp cho Nguyễn Duy H2 để Công ty BTC VALUE lập Chứng thư thẩm định giá, Báo cáo kết quả thẩm định giá.

Khi ban hành Chứng thư thẩm định giá, Báo cáo kết quả thẩm định giá thì Đặng Xuân M, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Duy H2 đã có sự thỏa thuận trước về giá với chủ đầu tư, nhà thầu, sử dụng 03 báo giá không phải là giá thị trường để ấn định giá cho thiết bị, vi phạm quy định tại Điều 4 Điều 21 Luật Giá. Khi tiến hành thẩm định giá tài sản, không khảo sát thực tế, thu thập thông tin về tài sản so sánh, kết quả các giao dịch thành công trên thị trường, các hợp đồng, hóa đơn, chứng từ mua bán làm cơ sở thẩm định giá, vi phạm quy định Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 02, 08 ban hành kèm theo Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014, Thông tư số 126/2015/TT-BTC ngày 20/8/2015 của Bộ Tài chính; không tiến hành thẩm định giá thực hiện theo 6 bước của Quy trình thẩm định giá quy định tại Điều 30 Luật Giá, Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05 ban hành kèm theo Thông tư số 28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015; thỏa thuận trước về giá là vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề thẩm định giá ban hành kèm theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 của Bộ Tài chính.

Chứng thư số 9217.294/CT.BTC ngày 03/11/2017 được Đặng Xuân M ký với vai trò Thẩm định viên, người đại diện pháp luật để phát hành chứng thư; Nguyễn Quốc V ký với vai trò Thẩm định viên, chịu trách nhiệm chính các nội dung của chứng thư; Nguyễn Duy H2 trực tiếp liên hệ, nhận báo giá của H1 - Công ty NSJ. Chứng thư thẩm định giá của Công ty BTC VALUE trái các quy định của pháp luật, không có giá trị pháp lý, đã được Sở Y tế Cần Thơ sử dụng để lập hồ sơ thầu, đề nghị cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán và kế hoạch lựa chọn nhà thầu, xác định giá của Hệ thống DSA hai bình diện, làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu đấu thầu (vi phạm khoản 4 Điều 89 Luật Đấu thầu), đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.

1.3. Hành vi không đảm bảo công bằng, minh bạch; Tiết lộ thông tin đấu thầu khi thực hiện Hợp đồng tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu:

Hoàng Thị Thúy N với Nguyễn Thị Dung và Vũ Quang N1 - Công ty Mediconsult có quen biết nhau từ trước. Theo chỉ đạo của N, Lê Thành H1 đã giới thiệu Công ty Mediconsult với Lương Tấn T2, để T2 đề xuất với Cao Minh C, Bùi Thị Lệ P chọn Công ty Mediconsult làm đơn vị tư vấn đấu thầu. Ngày 02/5/2018, Bùi Thị Lệ P - Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ với bà Nguyễn Thị D1 - Tổng Giám đốc Công ty Mediconsult ký Hợp đồng tư vấn lựa chọn nhà thầu gói thầu: Tư vấn lập Hồ sơ mời thầu và đánh giá Hồ sơ dự thầu gói thầu cung cấp và lắp đặt Hệ thống DSA hai bình diện.

Để Công ty Mediconsult lập Hồ sơ mời thầu theo các tiêu chí có lợi cho Công ty NSJ, N đã trao đổi nhờ N1 giúp đỡ và tạo điều kiện để cấp dưới của N cùng tham gia. N1 đồng ý và chỉ đạo Tạ Trường X - nhân viên Công ty Mediconsult khi lập Hồ sơ thì tạo điều kiện cho nhân viên của N cùng tham gia. Quá trình thực hiện Hồ sơ mời thầu thì Đoàn Thị N2, Lê Thành H1, Vũ Quang N1 và Tạ Thường X thường xuyên liên hệ với nhau qua Email, điện thoại để trao đổi, cập nhật tiến độ, duyệt Hồ sơ mời thầu cung cấp, lắp đặt Hệ thống DSA hai bình diện, tổng giá trị gói thầu sau thuế là 37.995.000.000 đồng.

1.4. Hành vi thông thầu của các bị cáo Công ty NSJ:

Theo chỉ đạo của Hoàng Thị Thúy N, Phòng Dự án chuẩn bị 03 hồ sơ dự thầu cho Công ty NSJ và 02 “quân xanh” là Công ty Trách nhiệm hữu hạn trang thiết bị y tế Danh (viết tắt Công ty Y tế Danh) và Công ty Cổ phần Tư vấn và Phát triển hạ tầng Hà Việt (viết tắt Công ty Hà Việt). Phùng Thị D giao cho Đoàn Thị N2 phụ trách xây dựng nội dung phần kỹ thuật, Nông Thị Bích S phụ trách xây dựng nội dung phần năng lực. Trong đó, chỉ có Hồ sơ dự thầu của Công ty NSJ đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí mời thầu, còn Hồ sơ dự thầu của hai công ty “quân xanh” sẽ không đáp ứng được tiêu chí hồ sơ kỹ thuật. Quá trình lập hồ sơ thầu cho “quân xanh”, xin chữ ký, đóng dấu pháp nhân vào hồ sơ dự thầu, nộp hồ sơ dự thầu, đều do Phùng Thị D và Đoàn Thị N2 chỉ đạo Nông Thị Bích S, Nguyễn Bảo T4, Nguyễn Viết H và các nhân viên Công ty NSJ thực hiện.

Ngày 13/6/2018, Tổ chuyên gia đấu thầu Công ty Mediconsult gồm ông Đoàn Ngọc A1, Tạ Thường X, Nguyễn H3, Nguyễn Thị Đ1 và Nguyễn Thị D1 - Tổng Giám đốc ký Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất kỹ thuật Gói thầu cung cấp, lắp đặt Hệ thống DSA hai bình diện, kết quả: Công ty NSJ là nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật. Ngày 18/6/2018, Bùi Thị Lệ P phê duyệt Danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật là Công ty NSJ. Ngày 22/6/2018, Sở Y tế Cần Thơ lập Biên bản mở hồ sơ đề xuất tài chính, Công ty NSJ tham gia dự và trúng thầu với mức giá 37.988.000.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Bộ Y tế, kết luận: Hệ thống DSA hai bình diện mới 100% do Đức sản xuất năm 2018 là 28.539.748.431 đồng. Xác định thiệt hại do hành vi vi phạm quy định đấu thầu gây ra là 8.409.326.569 đồng.

2. Hành vi vi phạm quy định về đấu thầu trong quá trình tổ chức 03 gói thầu tại Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ:

Chủ trương đầu tư dự án mua sắm trang thiết bị Bệnh viện Nhi được Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt tại Nghị quyết số 12/NQ-HĐND ngày 04/12/2015 danh mục các dự án nhóm B, nhóm C trọng điểm thuộc Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020. Trong đó, Dự án mua sắm trang thiết bị Bệnh viện Nhi được duyệt tổng mức đầu tư 288.770.500.000 đồng, trong đó trang thiết bị y tế là 267.976.800.000 đồng.

Ngày 01/02/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ Võ Thành T1 ký Quyết định số 253/QĐ-UBND về việc giao kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư năm 2016 từ nguồn cân đối ngân sách địa phương. Sở Y tế Cần Thơ là chủ đầu tư thực hiện dự án, có trách nhiệm lập báo cáo nghiên cứu khả thi; thẩm định nhu cầu mua sắm và tính năng kỹ thuật thiết bị thuộc dự án gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn dự án, tổng mức đầu tư 285.656.174.000 đồng.

Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ra Quyết định số 889/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 về việc báo cáo khả thi Dự án mua sắm trang thiết bị Bệnh viện Nhi với tổng mức đầu tư 285.656.174.000 đồng, trong đó chi phí thiết bị là 267.976.760.000 đồng từ nguồn vốn ngân sách thành phố và các nguồn huy động hợp pháp khác. Tuy nhiên, trong năm 2016, 2017 chưa bố trí được vốn, nên đến năm 2018, 2019 dự án mới được triển khai thực hiện.

2.1. Hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu, gian lận, không đảm bảo công bằng, minh bạch của các bị cáo ở Sở Y tế và nhà thầu NSJ:

Khoảng tháng 6/2018, khi có thông tin Sở Y tế chuẩn bị đầu tư Hệ thống máy CT 128 lát cắt thì Lương Tấn T2 cung cấp Quyết định số 889/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ cho Lê Thành H1. Biết được chủ trương đầu tư, Hoàng Thị Thúy N đã thỏa thuận với Bùi Thị Lệ P và Cao Minh C để công ty của N được tham gia và trúng 03 gói thầu, gồm: Gói thầu số 05/2018 cung cấp Hệ thống CT 128 lát cắt; Gói thầu số 10/2018 cung cấp trang thiết bị xét nghiệm; Gói thầu số 05/2019 cung cấp trang thiết bị cho Bệnh viện Nhi thuộc Đề án Bệnh viện vệ tinh của thành phố Cần Thơ. Cao Minh C cho Hồ Phương Q - nhân viên Ban QLDA Sở Y tế kết hợp với Lê Thành T5 - nhân viên Công ty NSJ chuẩn bị thủ tục để NSJ thực hiện 02 gói thầu tại Bệnh viện Nhi. Cụ thể:

2.1.1. Gói thầu số 05/2018 đầu tư Hệ thống CT 128 lát cắt:

Do Hệ thống CT 128 lát cắt đã được Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt dự toán là 26 tỷ đồng, N, P, C trao đổi, bàn bạc thống nhất Công ty NSJ sẽ tham gia và trúng thầu với giá trúng thầu là 26 tỷ đồng. Khi triển khai dự án, N cùng Lê Huy B - Tổng Giám đốc, chỉ đạo Đoàn Thị N2 - Trưởng phòng dự án công ty NSJ đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn SIEMENS Healthcare (viết tắt Công ty Siemens) xin báo giá Hệ thống CT 128 lát cắt có giá khoảng 14 tỷ đồng và cung cấp Catalogue cho Nguyễn Viết H - Giám đốc kinh doanh khu vực miền Tây và Lê Thành H1 - nhân viên Công ty NSJ, để cung cấp cho Sở Y tế Cần Thơ.

Thực hiện chỉ đạo của Cao Minh C, Hồ Phương Q - Chuyên viên Ban QLDA đã tiếp nhận thông số kỹ thuật, báo giá Hệ thống CT 128 lát cắt do Lê Thành H1 chuyển đến, gồm: Bảng tính năng (tên thiết bị, thông số kỹ thuật) và báo giá Hệ thống CT 128 lát cắt của Công ty Trần Lê là 26.315.653.000 đồng, Công ty Hà Việt là 26.667.468.000 đồng, để Q lập hồ sơ đề xuất đầu tư, dự toán, danh mục thiết bị đầu tư. Q chuyển các tài liệu này cho Bệnh viện Nhi để ông Trần Văn D1 - Giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng Khoa học Công nghệ Bệnh viện Nhi tổ chức họp Hội đồng Khoa học Công nghệ và lập Tờ trình thống nhất danh mục trang thiết bị theo cấu hình, các thông số kỹ thuật của Hệ thống CT 128 lát cắt do Hãng Siemens - Đức sản xuất, dự trù giá thiết bị là 26 tỷ đồng. Ngày 10/7/2018, ông Ông Huy T6 - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi ký Tờ trình số 748/TTr-BVNĐ về việc dự trù trang thiết bị y tế năm 2018 (kèm theo danh mục thiết bị) gửi Sở Y tế Cần Thơ, trong đó riêng Hệ thống CT 128 lát cắt ghi rõ hãng sản xuất máy chính: Hãng Siemens - Đức, kinh phí dự trù khoảng 26 tỷ đồng. Ngày 10/9/2018, Sở Khoa học Công nghệ có Công văn số 409 về bố trí kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư. Ngày 01/10/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ có Quyết định số 2499/QĐ-UBND về việc bố trí kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư, trong đó Hệ thống CT 128 lát cắt có mức đầu tư là 26 tỷ đồng, dựa trên 03 báo giá của Công ty NSJ cung cấp cho Sở Y tế Cần Thơ.

Mặc dù đến ngày 12/12/2018, Sở Y tế Cần Thơ mới thông báo Công ty NSJ là đơn vị trúng thầu cung cấp Hệ thống CT 128 lát cắt, nhưng do biết trước sẽ trúng thầu, nên theo chỉ đạo của Hoàng Thị Thúy N, Kim Trọng Đ - Phó Tổng Giám đốc Công ty NSJ phụ trách Ban hàng hóa đã liên hệ trước với Công ty Siemens cùng Công ty Bình An thương thảo các điều khoản để ký hợp đồng chuẩn bị hàng hóa cho gói thầu. Ngày 26/11/2018, Công ty Bình An và Công ty Siemens ký Hợp đồng cung cấp hàng hóa CT15-19/BINHAN; GVN0.VN50519 với nội dung: “Trên cơ sở Bình An đã ký hợp đồng cung cấp (01) hệ thống chụp cắt lớp điện toán 128 lát cắt với Công ty NSJ, Công ty NSJ ký hợp đồng bán lại hệ thống máy này cho Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ và có ý định mua hệ thống máy này của Siemens để cung cấp cho Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ”, trị giá hợp đồng 13.776.000.000 đồng. Ngày 06/12/2018, Kim Trọng Đ ký hợp đồng mua lại Hệ thống CT 128 lát cắt của Công ty Bình An với giá 15.834.000.000 đồng.

2.1.2. Gói thầu số 10/2018 cung cấp trang thiết bị xét nghiệm và Gói thầu số 05/2019 cung cấp trang thiết bị cho Bệnh viện Nhi thuộc Đề án Bệnh viện Vệ tinh của thành phố Cần Thơ:

+ Đối với Gói thầu số 10/2018 cung cấp trang thiết bị xét nghiệm:

Do năm 2018 Công ty NSJ đã trúng Gói thầu DSA và Gói thầu CT 128 lát cắt, nên Hoàng Thị Thúy N để Công ty Bình An tham gia dự thầu, nhằm tránh sự chú ý của cơ quan chức năng. Toàn bộ thủ tục, hồ sơ dự thầu của Công ty Bình An đều do các nhân viên của Công ty NSJ trực tiếp thực hiện. Theo chỉ đạo của N và Lê Huy B, Lê Thành H1 xin Danh mục thiết bị y tế và giá kế hoạch đã được Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ duyệt, chuyển về Phòng Dự án Công ty NSJ. Đoàn Thị N2 phụ trách cung cấp danh mục thiết bị, thông số kỹ thuật cho Lê Thành H1 và Nguyễn Viết H - Giám đốc kinh doanh khu vực miền Tây Công ty NSJ, để chuyển cho Hồ Phương Q - Chuyên viên Ban QLDA chuẩn bị triển khai các bước chuẩn bị tổ chức đấu thầu. Cao Minh C giao Hồ Phương Q thực hiện các thủ tục, tiếp nhận danh mục thiết bị và thông số kỹ thuật, giá thiết bị y tế từ Lê Thành H1 để xây dựng các báo cáo thẩm định đề nghị Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính thẩm định trình Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ phê duyệt dự toán, kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Ngày 21/6/2019, Bùi Thị Lệ P ký Quyết định số 1974/QĐ-SYT của Sở Y tế về việc công nhận Công ty Bình An trúng thầu, với giá thiết bị là 12.230.000.000 đồng. Ngày 02/8/2019, Sở Y tế Cần Thơ (do Bùi Thị Lệ P ký) và Công ty Bình An (do Hoàng Hà A ký) ký Hợp đồng số 02.08/2019/HĐKT về việc cung cấp hàng hóa, trị giá 12.320.000.000 đồng.

Mặc dù ngày 11/7/2019 Sở Y tế mới tổ chức mở hồ sơ đề xuất kỹ thuật để chấm thầu, nhưng do biết trước sẽ trúng thầu, Hoàng Thị Thúy N đã chỉ đạo Kim Trọng Đ và Hoàng Hà A - Công ty Bình An đàm phán, ký trước 15 hợp đồng kinh tế, để chuẩn bị sẵn hàng hóa thực hiện hợp đồng với Sở Y tế khi trúng thầu. Từ ngày 28/6/2019 đến ngày 02/7/2019, Hoàng Hà A - Tổng Giám đốc Công ty Bình An đã ký 14 hợp đồng mua 15 thiết bị y tế với các công ty: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thiết bị Sao Mai, Công ty MQF, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Lục Tỉnh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thiết bị khoa học Việt Khoa, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật y tế Việt Nam, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Anh Bắc, Công ty Cổ phần Thương mại Quốc tế Hoàn Cầu, để cung cấp thiết bị y tế của Gói thầu 10/2018.

+ Đối với Gói thầu số 05/2019 cung cấp trang thiết bị cho Bệnh viện Nhi thuộc Đề án Bệnh viện vệ tinh của thành phố Cần Thơ:

Trên cơ sở Quyết định số 1620/QĐ-UBND ngày 23/6/2017 về việc phê duyệt Đề án Bệnh viện vệ tinh thành phố Cần Thơ giai đoạn 2017-2020; dự toán kinh phí đầu tư trang thiết bị Bệnh viện Nhi được duyệt 16.744.000.000 đồng. Khi Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ có chủ trương cấp vốn cho Dự án Bệnh viện vệ tinh (Gói thầu số 05/2019), Hồ Phương Q - nhân viên Ban QLDA tiếp nhận danh mục thiết bị, thông số kỹ thuật, giá thiết bị từ Lê Thành H1 - nhân viên Công ty NSJ, để cung cấp cho ông Trần Văn D1 - Giám đốc Bệnh viện Nhi làm căn cứ họp Hội đồng Khoa học Công nghệ và lập Tờ trình số 726/TTr-BVNĐ ngày 18/7/2019 gửi Sở Y tế Cần Thơ về việc dự trù trang thiết bị cho Đề án Bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2016-2020. Ngày 17/9/2019, Bùi Thị Lệ P ký Quyết định số 2254/QĐ-SYT của Sở Y tế về việc phê duyệt hồ sơ mời thầu Gói thầu số 05/2019, hình thức đấu thầu qua mạng. Ngày 23/10/2019, Bùi Thị Lệ P ký Quyết định số 2731/QĐ-SYT của Sở Y tế, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, công nhận Công ty Bình An trúng thầu Gói thầu số 05/2019. Cùng ngày 23/10/2019, Sở Y tế Cần Thơ (do Bùi Thị Lệ P ký) và Công ty Bình An (do Hoàng Hà A ký) ký Hợp đồng số 2310/2019/HĐKT về việc cung cấp hàng hóa, trị giá 13.888.000.000 đồng.

Do biết trước sẽ trúng thầu, Kim Trọng Đ và Hoàng Hà A - Công ty Bình An theo chỉ đạo của Hoàng Thị Thúy N đã đàm phán, ký trước 5/6 hợp đồng kinh tế mua hàng hóa với các công ty: Công ty Cổ phần Thương mại Quốc tế Hoàn Cầu, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thiết bị khoa học Việt Tân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn thiết bị và dụng cụ y tế Hiếu Dũng, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kỹ thuật Thanh Hà, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu y tế Thăng Long, để giao hàng cho Sở Y tế Cần Thơ khi trúng thầu.

2.2. Hành vi gian lận trong đấu thầu, lập chứng thư thẩm định giá khống:

Tương tự như gói thầu DSA hai bình diện, các báo giá trong hồ sơ thẩm định giá đều do Công ty NSJ chuẩn bị để Công ty BTC VALUE lập Chứng thư thẩm định giá và Báo cáo kết quả thẩm định giá theo giá áp đặt, thỏa thuận trước với Công ty NSJ. Bùi Thị Lệ P, Cao Minh C chỉ đạo Hồ Phương Q làm thủ tục chỉ định thầu, hợp đồng thẩm định giá với Công ty BTC VALUE. Hồ Phương Q gọi điện thông báo để Nguyễn Duy H2 - Nhân viên kinh doanh Công ty NSJ tiếp nhận các báo giá, để định giá. Các báo giá do Đoàn Thị N2 và nhân viên Phòng Dự án Công ty NSJ soạn thảo rồi nhờ các pháp nhân ký hợp thức, phục vụ hoạt động thẩm định giá. Khi thực hiện thẩm định giá Hệ thống CT 128 lát cắt, để đảm bảo tổng giá trị thực hiện gói thầu bao gồm giá thiết bị và các chi phí tư vấn khác, không vượt quá giá 26 tỷ đồng mà Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ đã phê duyệt, Hồ Phương Q - Nhân viên Ban QLDA và Nguyễn Duy H2 - Nhân viên kinh doanh Công ty BTC VALUE cùng Lê Thành H1 - Nhân viên kinh doanh Công ty NSJ đã thống nhất là H1 sẽ chịu trách nhiệm cung cấp các báo giá phải cao hơn hoặc bằng 26 tỷ đồng và thống nhất giá thẩm định. Q và H2 thống nhất định giá là 25.903.000.000 đồng. Ngày 08/10/2019, Công ty BTC VALUE ban hành Chứng thư thẩm định giá số 9218.0288, giá Hệ thống CT 128 lát cắt là 25.903.000.000 đồng (Sử dụng báo giá khống của Công ty NSJ, Công ty Cổ phần Thương mại Việt Phúc và Công ty Bình An). Tương tự: Chứng thư thẩm định giá số 9219.0036 ngày 18/3/2019, giá thẩm định các thiết bị Gói thầu số 10/2019 là 12.270.000.000 đồng (Sử dụng báo giá khống của Công ty Trách nhiệm hữu hạn VH Thacom Việt Nam, Công ty Hà Việt và Công ty Trần Lê); Chứng thư thẩm định giá số 9919.0407 ngày 06/8/2019, giá thiết bị Gói thầu số 5/2019 là 14.021.400.000 đồng (Sử dụng báo giá khống của Công ty Khoáng sản, Công ty Hà Việt và Công ty Trần Lê).

Sử dụng giá thiết bị của các Chứng thư thẩm định giá của Công ty BTC VALUE ban hành, Cao Minh C và đồng phạm đã xây dựng các báo cáo gửi Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính phê duyệt Dự toán, Kế hoạch lựa chọn nhà thầu, với chi phí thiết bị đối với Gói thầu số 05/2018 là 25.903.000.000 đồng; Gói thầu số 10/2019 là 12.270.000.000 đồng và Gói thầu số 05/2019 là 14.021.400.000 đồng.

Hành vi thông đồng, thỏa thuận trước để ban hành Chứng thư thẩm định giá theo giá áp đặt, thỏa thuận của Đặng Xuân M, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Duy H2 với các bị cáo Công ty NSJ, đã vi phạm Điều 30 Luật Giá, vi phạm quy định Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 01, 02, 05, 08 ban hành kèm theo Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014, Thông tư số 28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015, Thông tư số 126/2015/TT-BTC ngày 20/8/2015 của Bộ Tài chính. Việc cố ý ký ban hành Chứng thư thẩm định giá, Báo cáo kết quả thẩm định giá không đúng giá hàng hóa thị trường, làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu trong đấu thầu nhằm thu được lợi ích tài chính, đã vi phạm khoản 4 Điều 89 Luật Đấu thầu (gian lận trong đấu thầu), giúp các bị cáo tại Sở Y tế Cần Thơ và Công ty NSJ thực hiện hành vi phạm tội.

2.3. Hành vi không đảm bảo công bằng, minh bạch, tiết lộ thông tin đấu thầu khi thực hiện Hợp đồng tư vấn lập Hồ sơ mời thầu và đánh giá Hồ sơ dự thầu:

Thực hiện chỉ đạo của Bùi Thị Lệ P và Cao Minh C, Hồ Phương Q liên hệ với Tạ Trường X - nhân viên Công ty Mediconsult làm các thủ tục chỉ định làm tư vấn lập hồ sơ mời dự thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu. Hồ Phương Q soạn Biên bản họp Hội đồng thẩm định Sở Y tế về kiểm tra năng lực công ty, trình các thành viên Hội đồng ký hợp thức. Hồ Phương Q chuyển thông số kỹ thuật, cấu hình, giá thiết bị do Công ty NSJ chuẩn bị trước để Tạ Trường X, Vũ Quang N1, các thành viên Tổ chuyên gia Công ty Mediconsult lập Hồ sơ mời thầu Gói thầu số 05/2018; Gói thầu số 10/2019 và Gói thầu số 05/2019. Hồ sơ mời thầu do Công ty Mediconsult lập phần cấu hình thiết bị, tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với các tài liệu do Công ty NSJ cung cấp cho Sở Y tế Cần Thơ, hồ sơ Công ty NSJ, Công ty Bình An dự thầu.

Quá trình thực hiện tư vấn lập hồ sơ dự thầu: Vũ Quang N1 - Phó Giám đốc Công ty Mediconsult, Tạ Trường X - nhân viên Công ty Mediconsult đã trao đổi với Lê Thành H1, Đoàn Thị N2, Nông Thị Bích S - nhân viên Công ty NSJ điều chỉnh thông số kỹ thuật và thay đổi những thông tin có lợi cho Công ty NSJ trong hồ sơ mời thầu Gói thầu Hệ thống CT 128 lát cắt, Gói thầu số 05/2018, Gói thầu số 10/2019 và Gói thầu số 05/2019, trái quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 76 và khoản 7 Điều 89 Luật Đấu thầu. Kết quả, Công ty NSJ là nhà thầu duy nhất dự thầu, đáp ứng về mặt kỹ thuật Gói thầu số 05/2018 với giá dự thầu là 25.868.000.000 đồng; Công ty Bình An trúng thầu Gói thầu số 10/2019 cung cấp trang thiết bị xét nghiệm giá 12.230.000.000 đồng và Gói thầu số 05/2019 cung cấp trang thiết bị cho Bệnh viện Nhi thuộc Đề án Bệnh viện Vệ tinh của thành phố Cần Thơ giá 13.888.000.000 đồng.

Về thiệt hại 03 gói thầu, theo Cáo trạng xác định:

Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Bộ Y tế có Kết luận số 1887 ngày 25/11/2021 và Kết luận số 745 ngày 06/6/2022, xác định giá trị Hệ thống CT 128 lát cắt là 13.306.777.882 đồng; Tổng giá trị tài sản 15 danh mục thiết bị, hệ thống trang thiết bị xét nghiệm và phụ kiện thuộc Gói thầu số 10/2019 là 5.100.517.606 đồng; Tổng giá trị 04 danh mục thiết bị, hệ thống trang thiết bị y tế và phụ kiện thuộc Gói thầu số 05/2019 là 4.418.557.825 đồng;

+ Gói thầu 05/2018 (hệ thống CT 128 lát cắt): Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, ngày 26/11/2018 công ty Bình An mua của Công ty Siemens với giá 13.776.000.000 đồng (có hóa đơn, chứng từ khai báo thuế), giá Hệ thống CT 128 lát cắt theo Kết luận số 1887 ngày 25/11/2021. Để có lợi cho bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lấy giá mua vào là 13.776.000.000 đồng để xác định thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo đối với Gói thầu số 05/2018 là 12.101.000.000 đồng [25.868.000.000 đồng (giá trúng thầu) - 13.776.000.000 đồng (giá theo hóa đơn)].

+ Gói thầu 05/2019 (cung cấp trang thiết bị cho Bệnh viện Nhi thuộc Đề án Bệnh viện Vệ tinh của thành phố Cần Thơ): Gói thầu số 05/2019 gồm: 04 danh mục trang thiết bị đã định giá (đã bao gồm thuế VAT) là 4.418.557.825 đồng, 01 danh mục (Bộ phẫu thuật nội soi nâng cao) không định được giá, có giá trúng thầu là 4.435.000.000 đồng. Căn cứ Kết luận số 745 ngày 06/6/2022, xác định thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo đối với Gói thầu 05/2019 là 5.034.442.175 đồng {13.888.000.000 đồng (giá trúng thầu) - [4.418.557.825 đồng (giá định giá 04 thiết bị) + 4.435.000.000 đồng (giá Bộ phẫu thuật nội soi nâng cao)]}.

Gói thầu số 10/2019 (cung cấp trang thiết bị xét nghiệm): Tổng giá trị tài sản Gói thầu số 10/2019 định giá (đã bao gồm thuế VAT) là 5.100.517.606 đồng, nên căn cứ Kết luận số 745 ngày 06/6/2022, xác định thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra đối với Gói thầu 10/2019 là 7.129.482.394 đồng [12.230.000.000 đồng (giá trúng thầu) - 5.100.517.606 đồng (giá định giá)].

3. Về hành vi đưa - nhận tiền của các bị cáo: Bùi Thị Lệ P, Hoàng Thị Thúy N, Cao Minh C, Nguyễn Viết H, theo Cáo trạng xác định:

3.1. Khoản tiền 03 tỷ đồng N đưa cho P tại nhà riêng của P vào ngày 03/12/2019:

Căn cứ sao kê tài khoản ngân hàng Công ty NSJ, tài khoản của Nguyễn Viết H, list điện thoại giữa Bùi Thị T7, Nguyễn Viết H, Hoàng Thị Thúy N, Nguyễn Thị Khánh L1 - Thư ký của N; Lời khai của các bị cáo, nhân chứng, kết quả nhận dạng và thực nghiệm điều tra, đủ căn cứ xác định:

Hồi 17 giờ 22 phút, ngày 02/12/2019, theo chỉ đạo của N, Bùi Thị T7 - Phụ trách quản lý tài chính Công ty NSJ gọi điện thoại thông báo cho Nguyễn Viết H là N sẽ đi công tác tại Cần Thơ, T7 chuyển cho H 03 tỷ đồng, để H rút tiền mặt đưa cho N.

Ngày 03/12/2019, Công ty NSJ bố trí 03 xe ô tô để đưa N và nhân viên từ Thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố Cần Thơ, trong đó: N và Nguyễn Khánh L1 đi xe ô tô Mercedes S400 màu trắng do Nguyễn Hữu D2 điều khiển; H và H1 đi xe ô tô Innova do Nguyễn Hữu T8 điều khiển và Nguyễn Thị T9 (Thầy cúng do N thuê) đi xe ô tô Innova màu bạc do lái xe tên K điều khiển.

Khoảng hơn 09 giờ ngày 03/12/2019, xe của H, H1 đến Cần Thơ thì H vào BIDV Tây Đô tại quận Ninh Kiều rút 03 tỷ đồng, gồm 06 bó tiền, mỗi bó 10 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng/tờ), toàn bộ số tiền đựng trong túi nilon màu xanh in logo của ngân hàng BIDV. Nhận tiền xong, H gọi cho H1 (09 giờ 34 phút) và T8 đến ngân hàng đón. H xách túi tiền lên xe và cùng H1, T8 di chuyển trên đường (gần khu vực Sở Y tế Cần Thơ) để chờ gặp N.

Đến 10 giờ 13 phút, N điện thoại cho Bùi Thị Lệ P để hẹn gặp tại nhà riêng của P. Lúc 10 giờ 14 phút, L1 gọi điện thoại cho H hẹn gặp để nhận tiền. Khoảng 10 phút sau, hai bên gặp nhau trên một đoạn đường thuộc quận Ninh Kiều (không rõ chính xác đường nào), trước sự chứng kiến của N, L1, D2, H đưa túi tiền 03 tỷ đồng cho L1 (D2 ngồi vị trí ghế lái, N ngồi ghế sau bên phụ, L1 ngồi phía sau ghế lái), thời gian H đưa tiền cho L1 khoảng 10 giờ 30 phút. L1 đặt túi tiền trên ghế xe tại vị trí giữa N và L1 ngồi, sau đó xe chở N và L1 đến nhà riêng của P, còn H, H1 và T8 chở đồ lễ Chùa Ông tại quận Ninh Kiều, chuẩn bị lễ và chờ N.

Khoảng 10 giờ 40 phút, khi đến nhà riêng của P, L1 trực tiếp xách túi tiền 03 tỷ đồng từ xe vào nhà P, L1 đưa túi tiền cho N tại bậc thềm lên phòng khách, sau đó ra cửa nhận gói quà từ D2 đưa. Đến khi L1 vào phòng khách thì P và N đang ngồi nói chuyện, L1 không thấy túi tiền trước đó L1 đưa cho N nữa. Khoảng 10 đến 15 phút sau, N và L1 ra về, L1 và D2 khẳng định khi từ nhà bà P ra, N không xách túi tiền lúc trước nữa.

Mặc dù Bùi Thị Lệ P và Hoàng Thị Thúy N không thừa nhận việc N đưa 03 tỷ đồng cho P, nhưng căn cứ vào sao kê tài khoản ngân hàng, lời khai nhân chứng, list điện thoại của các bị cáo, kết quả nhận dạng và thực nghiệm điều tra, đủ căn cứ chứng minh bị cáo P đã nhận 03 tỷ đồng từ bị cáo N và L1 tại nhà của P vào ngày 03/12/2019.

3.2. Khoản tiền 200.000.000 đồng Công ty NSJ hỗ trợ Sở Y tế Cần Thơ vào dịp Tết Nguyên Đán 2019 - 2020, như sau:

Tháng 11/2019, Hoàng Thị Thúy N đến Sở Y tế Cần Thơ gặp Bùi Thị Lệ P để chúc Tết và đưa 100.000.000 đồng cho P. Sau đó, P và C chỉ đạo Lê Thị Hồng M mua quà Tết cho Sở Y tế Cần Thơ.

Ngày 03/12/2019, sau khi từ nhà P về, N, L1, D2 đến Chùa Ông thành phố Cần Thơ để làm lễ. Tại đây, N chỉ đạo L1 vào xe ô tô lấy 100.000.000 đồng (tiền của N mang theo) để cùng H đến Sở Y tế Cần Thơ đưa tiền cho M. M khai được P gọi điện thoại chỉ đạo nhận 100.000.000 đồng cho Sở Y tế Cần Thơ, sau đó sử dụng cho việc đi chúc Tết của cơ quan theo chỉ đạo của N và C.

3.3. Khoản tiền 200.000.000 đồng theo chỉ đạo của Hoàng Thị Thúy N, Nguyễn Viết H chuyển cho Cao Minh C:

Quá trình điều tra, Nguyễn Viết H khai tháng 4/2020, khi Thanh tra thành phố thanh tra toàn diện tại Sở Y tế Cần Thơ thì C yêu cầu H trao đổi với N, đưa 200 triệu đồng cho C để lo Đoàn Thanh tra, theo yêu cầu của C, H chuyển khoản đến số tài khoản của Nguyễn Ngọc Phương T10 - Kế toán Sở Y tế Cần Thơ.

Lê Thị Hồng M - Kế toán Trưởng Sở Y tế Cần Thơ khai: Ngày 10/4/2020, nhận được điện thoại, C yêu cầu M cung cấp số tài khoản để nhận tiền từ H. M đã liên hệ, lấy số tài khoản của T10 để cung cấp cho H. Lúc 17 giờ 51 phút, ngày 10/4/2020, T7 chuyển 200 triệu đồng cho Nguyễn Viết H; Lúc 18 giờ 17 phút, H chuyển số tiền này vào tài khoản của Nguyễn Ngọc Phương T10, số 0111000241955 Vietcombank Cần Thơ. Ngày 13/4/2020 (thứ hai) đầu tuần đi làm, T10 rút tiền đưa cho M, M đưa toàn bộ số tiền này cho C tại phòng làm việc. M và T10 không biết C sử dụng số tiền này vào việc gì.

Qua kết quả điều tra, đủ cơ sở xác định bị cáo P đã nhận 3.200.000.000 đồng từ bị cáo N, bị cáo C nhận 200.000.000 đồng của bị cáo N thông qua Nguyễn Viết H. Việc đưa - nhận tiền là yếu tố vụ lợi trong vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng.

3.4. Về việc Nguyễn Viết H khai đưa 20.000 USD và 300.000.000 đồng cho ông Trần Văn D1 - Giám đốc Bệnh viện Nhi:

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Viết H, Nguyễn Thị Khánh L1, xác định: Vào dịp giáp Tết năm 2020, N chỉ đạo H biếu ông D1 20.000 USD và 300.000.000 đồng tiền Tết cho Bệnh viện Nhi. Ông D1 khẳng định không nhận tiền và quà của H. Đối chất các bên giữ nguyên lời khai, kết quả điều tra không đủ dữ liệu chứng minh lời khai của H, nên không đủ căn cứ xác định ông D1 đã nhận 20.000 USD và 300.000.000 đồng theo chỉ đạo của N.

Đối với các các nhân liên quan đến vụ án, Cáo trạng xác định:

+ Ông Võ Thành T1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ: Là người đứng đầu Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và quyết định chủ trương, bố trí vốn và quyết định đầu tư dự án. Quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định ông T1 có tác động đến cá nhân nào để làm sai khi thẩm định chủ trương đầu tư, dự án, kế hoạch lựa chọn nhà thầu và dự toán; chưa có căn cứ xác định ông T1 có hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu, không có căn cứ xác định ông T1 có động cơ vụ lợi. Tài liệu điều tra đến nay chỉ có lời khai của Bùi Thị Lệ P và Nguyễn Viết H khai về việc N có nhờ ông T1 tác động để P tạo điều kiện giúp công ty của N tham gia các gói thầu, nhưng ông T1 và N không thừa nhận, không có chứng cứ chứng minh N tác động để ông T1 làm việc với Bệnh viện Tim và đồng ý cho đầu tư Hệ thống DSA hai bình diện, nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự.

+ Đối với các cá nhân tại Thanh tra thành phố Cần Thơ thanh tra các gói thầu mua sắm thiết bị y tế tại Sở Y tế Cần Thơ: Các thành viên thanh tra thừa nhận đã có thiếu sót trong thanh tra, không đưa gói thầu mua sắm Hệ thống chụp cắt lớp 128 lát cắt vào Kết luận thanh tra là chưa đúng quy định, để thất lạc tài liệu do hải quan cung cấp, ảnh hưởng đến kết quả thanh tra. Quá trình điều tra không chứng minh được ông Trần Phước H4, Bùi Xuân T11 và cấp dưới có động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác để làm trái công vụ, không đủ chứng cứ chứng minh Cao Minh C nhận 200 triệu đồng của Công ty NSJ để đưa cho 02 cá nhân này. Hành vi của ông Trần Phước H4, Bùi Xuân T11 và cấp dưới có dấu hiệu thiếu trách nhiệm, tuy nhiên không xác định được thiệt hại do hành vi thanh tra này, nên không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Trần Phước H4, Bùi Xuân T11 (Ngày 27/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã có văn bản đề nghị Thành Ủy Cần Thơ xem xét xử lý về Đảng và chính quyền đối với ông Trần Phước H4, Bùi Xuân T11).

+ Đối với ông Lê Văn T12 - Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ: Là người ký các quyết định về kế hoạch lựa chọn nhà thầu và dự toán khi dự án đã có quyết định chủ trương đầu tư dự án, bố trí vốn và quyết định đầu tư dự án… quá trình duyệt, ký các văn bản, ông T12 không có thông đồng hoặc bị ai tác động, không được hưởng lợi ích vật chất gì, nên chưa có căn cứ để xử lý hình sự.

+ Đối với bà Lê Dương Cẩm T13 - Phó Giám đốc; ông Lê Văn Bé T14 - Trưởng phòng thẩm định; ông Phạm Minh Đ1 - Chuyên viên Phòng thẩm định, Sở Kế hoạch đầu tư và bà Nguyễn Thị Phương D2 - Trưởng Phòng Tài chính đầu tư, Sở Tài chính: Khi kiểm tra hồ sơ đã không phát hiện ra các báo giá không ghi thời gian, không đảm bảo yếu tố giá cả thị trường. Hành vi sai sót của 04 cá nhân này là do không phải là thẩm định viên về giá, không phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại, không bị ai tác động làm sai, không được hưởng lợi ích gì, nên chưa đến mức xử lý hình sự.

+ Đối với ông Trần Quốc L - Giám đốc Bệnh viện Tim và ông Trần Văn D1 - Giám đốc Bệnh biện Nhi: Cáo trạng xác định đã không trực tiếp tham gia và quyết định trong hoạt động đấu thầu, không biết hành vi phạm tội của các bị cáo, không được hưởng lợi, nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

+ Đối với bà Lê Thị Hồng M - Kế toán Ban QLDA: Là người tham gia soạn thảo các Biên bản thương thảo hợp đồng, hợp đồng kinh tế, làm thủ tục thanh toán… Cáo trạng xác định, không có tài liệu chứng cứ chứng minh bà M đã được trao đổi, bàn bạc, tạo điều kiện cho Công ty NSJ và Công ty Bình An trúng thầu, không được hưởng lợi, nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

+ Đối với các cá nhân trong Hội đồng thẩm định hồ sơ mời thầu, kết quả đấu thầu 04 gói thầu: Là các bác sĩ công tác tại Sở Y tế Cần Thơ, cùng với Công ty Mediconsult tham gia thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu. Quá trình điều tra không có tài liệu thể hiện trao đổi, bàn bạc với nhà thầu, không biết hành vi phạm tội của các bị cáo, không được hưởng lợi, nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

+ Đối với các cá nhân liên quan tại Công ty NSJ: Thực hiện soạn thảo, thu thập các báo giá trang thiết bị y tế, lập hồ sơ dự thầu, đi nộp hồ sơ dự thầu, tham gia đóng, mở gói thầu Hệ thống DSA… Các nhân viên thực hiện theo chỉ đạo, là người làm công ăn lương, không nhận thức được hành vi phạm tội của các bị cáo, không được hưởng lợi, nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

+ Đối với bà Nguyễn Thị D1 và các thành viên khác của Tổ chuyên gia Công ty Mediconsult: Quá trình điều tra không có chứng cứ thể hiện mối liên hệ giữa các cá nhân này với Sở Y tế Cần Thơ, Công ty Bình An, Công ty NSJ, nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

+ Đối với bà Nguyễn Thị Thúy H5 - Phó Giám đốc; bà Bùi Lã Kim N3 và bà Hồ Thị Kim T15 (nhân viên Công ty BTC VALUE): Tham gia soạn thảo hợp đồng, Báo cáo kết quả thẩm định giá và Chứng thư thẩm định giá. Các cá nhân này không phải là thẩm định viên, không trao đổi bàn bạc, không biết hành vi phạm tội của các bị cáo, không được hưởng lợi gì, nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

+ Đối với ông Nguyễn Quý K1 - Giám đốc Công ty Thiết bị y tế Danh, Nguyễn Tiến M1 - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Hà Việt: Là “quân xanh” cho Công ty NSJ, kết quả điều tra không có chứng cứ chứng minh giữa ông M1 và ông K1 bàn bạc, thỏa thuận với cá nhân nào tại Công ty NSJ để lập hồ sơ dự thầu, nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

+ Đối với ông Đào Hồng Đ3 - Giám đốc Công ty Bảo Minh, ông Trần Văn V1 - Giám đốc Công ty N&N, Nguyễn Đức L1 - Công ty Trần Lê (thời điểm ký báo giá là ông Nguyễn Quý C1 - đã chết) và Trần Thị Lan A3 - Giám đốc Công ty Khoáng sản: Là các công ty cung cấp báo giá thiết bị y tế theo đề nghị của nhân viên Công ty NSJ, thực hiện để giữ mối quan hệ trong kinh doanh, không bàn bạc, không được hưởng lợi gì, nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

+ Đối với các cá nhân khác có liên quan tại Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính thành phố Cần Thơ: Không đủ căn cứ xử lý hình sự.

+ Đối với các cá nhân liên quan tại Công ty Kiến Thiết và Công ty Thái Vũ: Căn cứ kết quả điều tra xác định các cá nhân này không có sự thông đồng với chủ đầu tư, nhà thầu, không hưởng lợi gì, nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.

Tại Bản cáo trạng số 174/CTr-VKSTC-V3 ngày 08/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố các bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Nguyễn Quốc V, Phùng Thị D và Hoàng Hà A đều về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3 Điều 222 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và còn truy tố 14 bị cáo khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thúy N 08 (Tám) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2021. Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

2. Căn cứ khoản 3 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Phương Q 04 (Bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Căn cứ khoản 3 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

4. Căn cứ khoản 3 Điều 222; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phùng Thị D 02 (Hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

5. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hoàng Hà A 02 (Hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Cấm làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 01 (Một) năm đối với bị cáo kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

6. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Cấm làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 01 (Một) năm đối với bị cáo kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo Hoàng Thị Thúy N phải tiếp tục bồi thường cho Sở Y tế thành phố Cần Thơ, số tiền là 27.250.943.638 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với 14 bị án khác; về trách nhiệm nộp tiền thu lợi bất chính đối với Công ty Cổ phần thẩm định giá BTC VALUE, Công ty liên doanh Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Y tế Mediconsult Việt Nam; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục điều tra làm rõ về hành vi đưa - nhận tiền của Hoàng Thị Thúy N, Bùi Thị Lệ P, Cao Minh C và các đối tượng khác; kiến nghị đến Ủy ban nhân dân và các ban ngành của thành phố Cần Thơ trong lĩnh vực đầu tư công.

Ngày 01/3/2023, bị cáo Hoàng Thị Thúy N kháng cáo yêu cầu xem xét bị cáo không vi phạm khoản 2, khoản 4 Điều 89 Luật Đấu thầu; Hội đồng định giá xác định thiệt hại bằng phương pháp “theo chi phí” làm bất lợi cho bị cáo, vì đã không tính các khoản gồm: Thuế VAT chênh lệch giữa giá mua với giá bán, thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp, chi phí bảo hành (# 5% giá bán), giá trị các thiết bị tăng thêm, lãi suất ngân hàng. Yêu cầu xác định thiệt hại bằng phương pháp “so sánh”.

Từ ngày 22/02/2023 đến ngày 02/3/2023, các bị cáo: Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D, Hoàng Hà A và Nguyễn Quốc V đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 25/8/2023, bị cáo Nguyễn Quốc V có đơn rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Thông báo số 34/2023/TB-HS ngày 06/9/2023 về việc rút kháng cáo của bị cáo V.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Bị cáo Hoàng Thị Thúy N kháng cáo yêu cầu xem xét lại phương pháp định giá và xác định thiệt hại của vụ án. Nếu Hội đồng định giá áp dụng phương pháp định giá theo giá thị trường giống như phương pháp định giá trong vụ án xảy ra tại Sở Y tế tỉnh Tây Ninh, theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ, thì vụ án này chẳng những không có thiệt hại, mà còn làm lợi cho ngân sách Nhà nước và như vậy, không có thiệt hại xảy ra thì không có tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”; Công ty của bị cáo là nhà phân phối duy nhất của Công ty Siemens tại Cần Thơ nên tại địa bàn này chỉ có công ty của bị cáo có quyền phân phối sản phẩm của Siemens, nếu công ty JI và công ty Philips không dự thầu thì chỉ có công ty của bị cáo có sản phẩm để cung cấp cho các gói thầu này, Công ty Mediconsult cũng đã có văn bản xác nhận công ty của bị cáo không có hành vi cản trở các công ty khác tham gia, nên việc quy kết bị cáo hạn chế các nhà thầu khác là không đúng. Giá bán sản phẩm của công ty của bị cáo phải vừa đảm bảo cạnh tranh với công ty JI, công ty Philips và các nhà phân phối khác của công ty Siemens. Khi xác định giá, Hội đồng định giá đã không tính chi phí kỹ thuật cho công ty của bị cáo là chưa phù hợp, vì công ty của bị cáo phải có đội ngũ kỹ thuật mới đảm bảo cho việc bán và bảo hành sản phẩm. Mặt khác, cha của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, kỷ niệm chương “Chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972”, chú ruột của bị cáo là liệt sĩ, bị cáo là người nuôi dưỡng mẹ liệt sĩ và bị cáo có nhiều thành tích trong công tác và có nhiều đóng góp thiện nguyện cho xã hội, được nhiều Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị tặng giấy khen.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Thúy N đề nghị xem xét các kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Bộ Y tế đều không dựa vào căn cứ “giá thị trường của tài sản” quy định tại Điều 15 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ. Các máy móc, thiết bị được định giá đều là các sản phẩm phổ biến, được nhập khẩu và phân phối nhiều trên thị trường Việt Nam cả trong bệnh viện công và bệnh viện tư, các biên bản định giá đều ghi nhận có máy móc cùng loại hoặc cùng model, năm sản xuất được hệ thống bệnh viện công, các công ty kinh doanh thiết bị y tế kinh doanh, mua sắm trong cùng thời gian thực hiện các gói thầu (năm 2017 – 2019), có máy móc tương tự nhưng Hội đồng định giá lại cho rằng “không có tài sản giống hệt hoặc tương tự tài sản cần định giá”, nên đã không áp dụng cách tiếp cận thị trường để định giá tài sản, là vi phạm nguyên tắc định giá quy định tại Điều 4 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ. Phương pháp định giá mà Hội đồng định giá áp dụng có đầy rẫy những mâu thuẫn, đã không sử dụng hóa đơn của nhà cung cấp, đã tính tỷ lệ 141 % và 170% không có cơ sở, từ đó đã cho ra giá thấp hơn giá của nhà sản xuất bán cho nhà phân phối, là bất hợp lý. Đề nghị hủy một phần Bản án sơ thẩm về xác định thiệt hại để xác định lại.

Bị cáo Hồ Phương Q kháng cáo yêu cầu xem xét công việc chính của bị cáo là phụ giúp hồ sơ mảng xây dựng, đến tháng 7 năm 2018 thì mới được phân công sang lĩnh vực làm hồ sơ đấu thầu trang thiết bị y tế, gói thầu 128 lát cắt là gói thầu đầu tiên bị cáo làm, do mới tiếp nhận công việc mới nên bị cáo chỉ làm theo sự chỉ đạo mà bản thân bị cáo không biết là vi phạm, nên cả 03 gói thầu đều bị sai phạm như nhau, cấp trên chỉ đạo bị cáo tiếp nhận thông số kỹ thuật từ bị cáo H1 để làm hồ sơ giúp bệnh viện và nghĩ rằng thực hiện công việc do lãnh đạo giao nhiệm vụ, không nghĩ rằng mình làm như vậy là làm sai, bị cáo không biết có sự bàn bạc từ trước của lãnh đạo, bị cáo không quen biết với ai của công ty trúng thầu, thẩm định giá và mời thầu, bản thân không được hưởng lợi gì. Bị cáo là nhân viên lao động theo hợp đồng có thời hạn, rất sợ mất việc làm khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao, gia đình có truyền thống cách mạng, ông nội có nhiều huân chương, cha có kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục và nhiều bằng khen, chú ruột có nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, chồng không có việc làm ổn định, phải nuôi hai con nhỏ, nay bị cáo vừa mới sinh thêm con thứ ba, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Hồ Phương Q đề nghị xem xét bị cáo không nhận thức được việc làm của mình là sai, vì bị cáo chỉ nghĩ rằng phải thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của lãnh đạo, bản án sơ thẩm chưa xem xét ông nội, chú ruột, cha của bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo vừa mới sinh con, đề nghị đặc cách giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P kháng cáo yêu cầu xem xét bị cáo đã tự nguyện giao nộp điện thoại cá nhân của mình để giúp cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án. Từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 5 năm 2019 là thời gian thực hiện gói thầu DSA hai bình diện và gói thầu 128 lát cắt thì bị cáo giữ chức vụ Phó giám đốc Khối quan hệ khách hàng (phụ trách các tỉnh thuộc khu vực 1) là ngang chức vụ với ông Nguyễn Viết H (phụ trách các tỉnh thuộc khu vực 2, trong đó có Cần Thơ), nên bị cáo không được giao nhiệm vụ thực hiện công việc tại khu vực 2, nên bị cáo không có quyền gì và cũng không có chỉ đạo ông Nguyễn Viết H và Nguyễn Thành H1, mà bị cáo chỉ tham gia một phần trong gói thầu 128 lát cắt mà thôi. Chồng và bố mẹ chồng của bị cáo đều là những người có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, có 01 con của bị cáo bị tự kỷ, đang điều trị tiến triển tốt dần lên nên rất cần có sự chăm sóc của người mẹ, xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P đề nghị xem xét bị cáo phụ trách các tỉnh miền Đông Nam Bộ nên không có tham gia gói thầu DSA hai bình diện, bị cáo chỉ tham gia gói thầu 128 hai lát cắt. Bị cáo là người làm công ăn lương, không biết hành vi của mình là phạm tội, bị cáo đã tự nguyện giao nộp điện thoại cá nhân của mình cho cơ quan điều tra nhưng chưa được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, trong khi các bị cáo khác thì lại được áp dụng, gia đình có nhiều thành tích xuất sắc, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có 01 con tự kỷ rất cần có sự chăm sóc của người mẹ, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Phùng Thị D kháng cáo yêu cầu xem xét bị cáo chỉ tham gia duy nhất gói thầu DSA hai bình diện, không có tình tiết tặng nặng. Các bị cáo khác là cấp dưới của bị cáo vẫn có thể thực hiện 03 gói thầu còn lại mà không cần sự chỉ đạo của bị cáo, nên vai trò của bị cáo là thứ yếu. Bị cáo được thông báo công ty được làm đại lý của Siemens nên được giảm giá máy DSA, bị cáo mong muốn bệnh viện được trang bị thiết bị hiện đại phục vụ cho người dân, bị cáo không biết hành vi của mình phạm tội, bị cáo chỉ là người làm công ăn lương, không được hưởng lợi, nếu việc định giá tài sản theo giá các tổ chức y tế khác đã mua sản phẩm tương tự thì có thể gói thầu bị cáo tham gia không gây thiệt hại cho Nhà nước. Bị cáo thực hiện việc thụ tinh nhân tạo, có thai ngoài 09 tuần tuổi nhưng chưa được xem xét làm tình tiết giảm nhẹ, việc bị truy tố làm suy sụp tinh thần, liên tiếp bị mất con, trong thời gian diễn ra dịch COVID, bị cáo ủng hộ vật tư chống dịch cho xã Ứng Hòe, Ninh Giang, Hải Dương, đã đóng góp từ thiện tại Hải Phòng, đã vận động hỗ trợ 02 máy thở cho Bệnh viện Hùng Vương, được Bệnh viện Hùng Vương, Công ty TNHH Trí Tâm Ý, Ủy ban nhân dân xã Ứng Hòe, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng tặng bằng khen, giấy khen và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã cứu người bị ngã xuống ao, nhiều lần hiến tóc, hiến máu và đăng ký hiến tạng… xin được giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phùng Thị D đề nghị xem xét ngoài các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã trình bày, đề nghị xem xét bị cáo chỉ tham gia 01 gói thầu, bị cáo không biết có việc thông thầu, thấy giá rẻ hơn giá thị trường nên bị cáo mong muốn trang bị thiết bị y tế hiện đại phục vụ cho người dân, tuy là Trưởng phòng nhưng không có bị cáo thì các bị cáo khác vẫn thực hiện được, bị cáo phạm tội trong thời gian mang thai do thụ tinh nhân tạo nhưng chưa được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Hà A kháng cáo yêu cầu xem xét bị cáo chỉ có chuyên môn về công nghệ, không am hiểu và không có kinh nghiệm trong hoạt động đấu thầu, khi ký các hợp đồng bị cáo không nhận thức được là vi phạm pháp luật, không biết là mình làm sai, ký hợp đồng trên cơ sở các bộ phận chuyên môn về kinh doanh hàng hóa của Công ty đã thương thảo trước, bị cáo không mong muốn gây ra sự việc như vụ án này. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Nghị quyết 01 của Tòa án nhân dân tối cao.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Hà A đề nghị xem xét bị cáo Hoàng Hà A chỉ là đồng phạm giúp sức giản đơn, vai trò không đáng kể, rất mờ nhạt, bị cáo không nhận thức được hành vi của mình là giúp sức cho bị cáo N; Bản án sơ thẩm nhận định bị cáo tích cực giúp cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án nhưng khi quyết định hình phạt lại không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, gia đình có nhiều người có công với nước, bố và mẹ của bị cáo được tặng huy chương, vợ của bị cáo có nhiều giấy khen trong công tác, bố vợ, chú ruột của bị cáo có nhiều huân chương, huy chương, Công ty Bình An có văn bản cam kết khắc phục toàn bộ thiệt hại của vụ án và xin cho bị cáo được hưởng án treo, Tổ Trưởng Tổ dân phố cũng có đơn xin cho bị cáo hưởng án treo. Bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02 năm 2018 và Nghị quyết số 01 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc cho bị cáo được án treo không những phù hợp quy định của pháp luật mà còn thể hiện tính nhân văn của cơ quan tiến hành tố tụng, nhân đạo của pháp luật. Đề nghị cho bị cáo thấp hơn 02 năm tù và cho hưởng án treo, vừa đảm bảo răn đe giáo dục, vừa thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các đơn kháng cáo đều hợp lệ, đủ điều kiện giải quyết phúc thẩm; Bản án sơ thẩm tuyên bố các bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D và Hoàng Hà A phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại khoản 3 Điều 222 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đã xử phạt mức hình phạt thỏa đáng. Cho đến nay, không có tài liệu, chứng cứ phủ nhận kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Bộ Y tế, nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu định giá lại tài sản của vụ án. Các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo và luật sư mới đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm cũng không đặc biệt đến mức phải giảm nhẹ thêm về hình phạt cho các bị cáo, nên đề nghị bác kháng cáo của tất cả các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các đơn kháng cáo của các bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D và Hoàng Hà A đều đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Bộ Y tế có Công văn số 6008/BYT-HTTB ngày 21/9/2023 cho biết do Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Bộ Y tế phải triển khai các nhiệm vụ cấp bách của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao nên không thể tham gia phiên tòa phúc thẩm; Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Bộ Y tế cũng đã có Công văn số 4066/BYT-HĐĐGTS ngày 30/6/2023 bảo lưu kết quả định giá và giải trình về các nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Thúy N, nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Bị cáo Nguyễn Quốc V rút kháng cáo, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc V.

Trong quá trình định giá, Hội đồng định giá đã có nghiên cứu các trang thiết bị y tế cùng loại trên cơ sở báo cáo của các Sở Y tế các tỉnh, thành phố, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, bệnh viện và Viện có giường bệnh của Bộ Y tế, các cơ sở y tế tư nhân, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, phân phối trang thiết bị y tế trong cả nước. Việc lựa chọn phương pháp định giá tài sản đã được thực hiện đúng theo quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BTC ngày 17/02/2014 và Thông tư số 126/2015/TT-BTC ngày 20/8/2015 của Bộ Tài chính. Các Kết luận định giá số 11/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2022, số 1887/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2021 và số 745/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2022 đều được ban hành đúng quy định của pháp luật; trình tự, thủ tục, phương pháp định giá đã được thực hiện đúng quy định của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự; Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018; Thông tư số 30/2020/TT-BTC ngày 17/4/2020 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 và Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 của Chính phủ.

Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Thúy N yêu cầu định giá lại và cũng không có cơ sở để chấp nhận lời bào chữa của các luật sư cho rằng Hội đồng định giá đã vi phạm nguyên tắc định giá theo cách tiếp cận thị trường quy định tại Điều 4, Điều 15 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các kết luận định giá, các hợp đồng, các hồ sơ mời thầu, các hồ sơ dự thầu cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2019, các bị cáo nguyên là lãnh đạo Sở Y tế Cần Thơ - chủ đầu tư 04 gói thầu cung cấp trang thiết bị y tế cho Bệnh viện Tim và Bệnh viện Nhi Cần Thơ, cùng với các chuyên viên Ban Quản lý dự án đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, thỏa thuận với bị cáo Hoàng Thị Thúy N - Chủ công ty NSJ và công ty Bình An để thực hiện các hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu, không đảm bảo công bằng minh bạch trong hoạt động đấu thầu, gian lận, thông đồng lập chứng thư định giá khống, tiết lộ thông tin đấu thầu, thông thầu, để các công ty của Hoàng Thị Thúy N trúng thầu, gây thiệt hại cho Nhà nước với tổng số tiền 32.674.251.138 đồng. Bản án sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D và Hoàng Hà A phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại khoản 3 Điều 222 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu, xâm phạm vào việc thực hiện chính sách đầu tư phát triển kinh tế xã hội, xâm phạm hoạt động công tác quản lý hoạt động đấu thầu các công trình, dự án của Nhà nước, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền đặc biệt lớn.

Bị cáo Hoàng Thị Thúy N là Chủ tịch Hội đồng sáng lập NSJ Group, với vai trò là chủ mưu, cầm đầu, tổ chức thực hiện tội phạm, bị cáo đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, bàn bạc với Bùi Thị Lệ P và Cao Minh C tạo điều kiện cho Công ty Bình An và Công ty NSJ tham gia và trúng 04 gói thầu theo giá mà N đưa ra; đã chỉ đạo cấp dưới tiếp cận thông tin, các yêu cầu về gói thầu, cung cấp thông số kỹ thuật thiết bị, giá thiết bị, các báo giá được lập khống cho Sở Y tế Cần Thơ lập dự toán, mời thầu; trao đổi, cung cấp các báo giá do Công ty NSJ lập khống cho Công ty BTC VALUE ban hành Chứng thư thẩm định giá theo giá chỉ định; trao đổi, thống nhất, điều chỉnh nội dung hồ sơ mời thầu với Công ty Mediconsult theo hướng có lợi cho các công ty của N; lập hồ sơ dự thầu cho các công ty “quân xanh”; ký các hợp đồng mua hàng giữa các công ty của N nhằm mục đích che giấu việc nâng giá hàng hóa, đã vi phạm các khoản: 2, 3, 4, 6, 7 Điều 89 Luật Đấu thầu, gây thiệt hại cho Nhà nước tổng số tiền 32.674.251.138 đồng. Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại và các tài sản đã kê biên của bị cáo có khả năng khắc phục toàn bộ thiệt hại, bị cáo có nhiều đóng góp cho các hoạt động xã hội, đã xử phạt bị cáo 08 năm tù đã là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghệ cao LTQ và Công ty Cổ phần Kỹ thuật Công nghệ Bình An có văn bản đề nghị chuyển các số tiền của hai công ty chưa được Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thanh toán (32.493.000.000 đồng) và số tiền xử lý nợ còn thừa tại Ngân hàng Cổ phần Thương mại Quân đội (3.518.640.125 đồng) để khắc phục hậu quả cho bị cáo N trong vụ án này, chứng tỏ bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải; đồng thời, cha của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, kỷ niệm chương “Chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972”, chú ruột của bị cáo là liệt sĩ, bị cáo là người nuôi dưỡng mẹ liệt sĩ là các tình tiết giảm nhẹ chưa được cấp sơ thẩm xem xét, nhưng xét thấy mức hình phạt mà án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo đã là tương xứng, nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hồ Phương Q là chuyên viên Ban quản lý Dự án, được giao nhiệm vụ phụ trách 03 gói thầu tại Bệnh viện Nhi, theo chỉ đạo của Giám đốc và Phó Giám đốc Sở Y tế, bị cáo đã trao đổi với Lê Thành H1 – nhân viên Phòng Kinh doanh Công ty NSJ thống nhất nhận danh mục hàng hóa, thông số kỹ thuật để Sở Y tế Cần Thơ và Công ty BTC VALUE lập hồ sơ gói thầu và thẩm định giá, giúp Công ty NSJ và Công ty Bình An trúng 03 gói thầu tại Bệnh viện Nhi, đã vi phạm các khoản: 3, 4, 6 Điều 89 Luật Đấu thầu, góp phần gây thiệt hại cho Nhà nước 24.264.924.569 đồng. Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là phụ nữ có thai, phạm tội lần đầu, là cấp dưới do bị lệ thuộc vào chỉ đạo của cấp trên, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã xử phạt bị cáo 04 năm tù là dưới xa mức thấp nhất của khung hình phạt quy định phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện gia đình có truyền thống cách mạng, ông nội có nhiều huân chương, cha có kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục và nhiều bằng khen, chú ruột có nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, nhưng xét thấy mức hình phạt mà án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo đã là tương xứng, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P là là Trưởng phòng Dự án Công ty NSJ, là người tiếp nhận chỉ đạo từ bị cáo Hoàng Thị Thúy N, Lê Huy B và Kim Trọng Đ. Bị cáo là lãnh đạo chủ chốt của Công ty, biết Công ty NSJ thông thầu với Sở Y tế Cần Thơ, bị cáo đã cùng với Nguyễn Viết H và Lê Thành H1 phối hợp với Phòng Dự án cung cấp báo giá, thông số kỹ thuật cho Sở Y tế, Công ty BTC VALUE, Công ty Mediconsult để làm căn cứ xin đầu tư dự án, đề xuất mức vốn, thẩm định giá tại gói thầu DSA và gói thầu 128 lát cắt. Hành vi của bị cáo đã vi phạm các khoản: 3, 4, 6, 7 Điều 89 Luật Đấu thầu, góp phần gây thiệt hại cho Nhà nước 20.510.326.569 đồng. Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, là cấp dưới do bị lệ thuộc vào chỉ đạo của cấp trên, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã xử phạt bị cáo 03 năm tù. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án bằng việc đã tự nguyện giao nộp điện thoại cá nhân của mình cho cơ quan điều tra để yêu cầu được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đồng thời bị cáo có đơn xin nộp thêm 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, chứng tỏ bị cáo thật sự ăn năn hối cải, nhưng xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo đã là là mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật, nên không có sơ sở để giảm nhẹ thêm về hình phạt. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Phùng Thị D là Trưởng phòng Dự án Công ty NSJ (từ năm 2017 đến tháng 5/2019), đã chỉ đạo cho các bị án: Đoàn Thị N2, Nông Thị Bích S, Nguyễn Bảo T4 và các nhân viên làm hồ sơ dự thầu cho Công ty NSJ, Công ty Danh, Công ty Hà Việt liên quan gói thầu Hệ thống DSA hai bình diện trái với quy định tại các khoản 3, 4, 6, 7 Điều 89 Luật Đấu thầu, góp phần gây thiệt hại cho Nhà nước 8.409.326.569 đồng. Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, là cấp dưới do bị lệ thuộc vào chỉ đạo của cấp trên, không được hưởng lợi, có nhiều đóng góp cho các hoạt động xã hội, phạm tội trong thời gian thực hiện thụ tinh nhân tạo, đã xử phạt bị cáo 02 năm tù. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp giấy khen, huy chương chiến sĩ vẻ vang của chồng bị cáo và bị cáo được dòng họ ủy quyền cho thờ cúng liệt sĩ là bác ruột của bị cáo, trước đây bị cáo cứu được 01 người sắp đuối nước, là các tình tiết giảm nhẹ mới; Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đã là có chiếu cố, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Hà A là Tổng Giám đốc Công ty Bình An, đã ký các thủ tục, hồ sơ do Phòng Dự án Công ty NSJ soạn thảo về việc Công ty Bình An tham gia và thực hiện gói thầu. Mặc dù chưa có kết quả đấu thầu, nhưng bị cáo đã ký 20 hợp đồng mua bán thiết bị y tế với các đơn vị cung cấp thiết bị y tế cho hai gói thầu; trong đó 19/20 hợp đồng ký trước ngày có thông báo Công ty Bình An trúng thầu (có 02 hợp đồng ký với Công ty MQF là đơn vị thuộc NSJ Group), 01 hợp đồng ghi rõ địa chỉ giao hàng tại Cần Thơ, nhằm tạo độc quyền về hàng hóa, gây cản trở cho các đơn vị dự thầu khác. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 3, khoản 6 Điều 89 Luật Đấu thầu, góp phần gây thiệt hại cho Nhà nước 12.163.924.568 đồng. Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, bản thân có nhiều thành tích xuất sắc trong học tập và công tác, phạm tội lần đầu, là cấp dưới do bị lệ thuộc vào chỉ đạo của cấp trên, không được hưởng lợi, đã xử phạt bị cáo 02 năm tù. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp huy chương vì sự nghiệp xây dựng của bố và mẹ của bị cáo, vợ và mẹ vợ của bị cáo được tặng nhiều giấy khen trong công tác, bố vợ được tặng nhiều huy chương, huân chương kháng chiến, chú ruột là thương binh có nhiều huân chương, là các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm chưa xem xét; Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đã là có chiếu cố, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Hà A là Tổng giám đốc Công ty Bình An, phạm tội từ 02 lần trở lên, hành vi của bị cáo là mắt xích quan trọng, có vai trò đáng kể nên không đủ điều kiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Tính chất của vụ án rất nghiêm trọng, đã gây tác động rất lớn đến dư luận xã hội trong phạm vi toàn quốc, việc cho hưởng án treo sẽ không đáp ứng được công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay, không thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của tất cả các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp.

Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo có kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với 14 bị án khác; về trách nhiệm nộp tiền thu lợi bất chính đối với Công ty Cổ phần thẩm định giá BTC VALUE, Công ty liên doanh Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Y tế Mediconsult Việt Nam; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc V. Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Quốc V.

3. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D và Hoàng Hà A; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 17/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;

3.1. Áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Thúy N phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”;

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thúy N 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

3.2. Áp dụng khoản 3 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; Các điểm: b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Hồ Phương Q phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”;

Xử phạt bị cáo Hồ Phương Q 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3.3. Áp dụng khoản 3 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”;

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc Hồng P 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3.4. Áp dụng khoản 3 Điều 222; Các điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phùng Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”;

Xử phạt bị cáo Phùng Thị D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3.5. Áp dụng khoản 3, khoản 4 Điều 222; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Hoàng Hà A phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”;

Xử phạt bị cáo Hoàng Hà A 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Cấm bị cáo làm công việc liên quan đến đấu thầu trong thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

3.6. Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo Hoàng Thị Thúy N phải tiếp tục bồi thường cho Sở Y tế thành phố Cần Thơ, số tiền là 27.250.943.638 đồng (Hai mươi bảy tỷ hai trăm năm mươi triệu chín trăm bốn mươi ba ngàn sáu trăm ba mươi tám đồng).

4. Mỗi bị cáo: Hoàng Thị Thúy N, Hồ Phương Q, Hoàng Ngọc Hồng P, Phùng Thị D và Hoàng Hà A đều phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng)/bị cáo.

5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với 14 bị án khác; về trách nhiệm nộp tiền thu lợi bất chính đối với Công ty Cổ phần thẩm định giá BTC VALUE, Công ty liên doanh Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Y tế Mediconsult Việt Nam; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ