- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu cơ quan (điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 267 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 715/2018/HS-PT Ngày: 25 – 12 – 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Ba
Bà Phạm Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2018/HSPT-TL ngày 08 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hữu H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu H, sinh năm 1984 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký HKTT: Thôn Đô Hai, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Số 4449A, đường N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; con ông Nguyễn Văn L sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị Ph (đã chết); có vợ là Trần Thu H sinh năm 1987 và 02 con sinh năm 2013 và 2016; bị bắt tạm giam từ ngày 25/8/2017 đến ngày 29/9/2017; bị cáo tại ngoại (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2013, Nguyễn Hữu H thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu Hữu Phát (Công ty Hữu Phát) và mở 02 cửa hàng kinh doanh nội thất.
Cuối năm 2014, Nguyễn Hữu H mua đi bán lại một lô gỗ Dầu gió có trữ lượng 400m3 với giá 4.500.000.000 đồng. Nguyễn Hữu H đã huy động được khoảng 3.000.000.000 đồng, còn thiếu 1.500.000.000 đồng nên H đặt vấn đề vay của anh Phạm Văn S thì được anh Sử đồng ý. Tuy nhiên, sau đó anh Sử không huy động được tiền cho H vay nên H đã “vay nóng” nhiều nơi để thực hiện hợp đồng. Sau khi thực hiện xong hợp đồng và tiến hành hạch toán chi phí thì H bị lỗ số tiền 300.000.000 đồng. Trong thời gian này 02 cửa hàng kinh doanh của H cũng bị thua lỗ, việc buôn bán gặp nhiều khó khăn. Đến tháng 5/2015, H vay của anh Sử số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng; tháng 7/2015, H vay của anh Sử số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận 5%/tháng; tháng 10/2015, H vay của anh Sử số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận 8%/tháng. Ngoài ra, H còn vay của anh Sử một số lần khác nhưng không nhớ rõ thời gian và số tiền vay. Đến tháng 6/2017, H ký nhận nợ với anh Sử tổng cộng số tiền 1.000.000.000 đồng tính cả gốc và lãi.
Cuối năm 2016, H vay của anh Nguyễn Văn N số tiền 300.000.000 đồng và hẹn 15 ngày sau sẽ trả 360.000.000 đồng. Khoảng 01 tháng sau, H không có tiền trả nợ anh N nên giữa H, anh N và anh S đã thống nhất là anh S sẽ thay H trả số tiền 300.000.000 đồng cho anh N, còn H sẽ phải cộng vào số nợ với anh S thêm 300.000.000 đồng, trong đó không tính lãi. Tổng số tiền H nợ anh Sử là 1.300.000.000 đồng.
Đến đầu năm 2017, H lên mạng internet tìm kiếm người làm giả giấy tờ, H thấy một người tên Hậu (không rõ nhân thân, lai lịch) quảng cáo làm giả được các loại bằng cấp, giấy tờ nên H đã liên lạc nhờ Hậu làm giả cho H 01 Giấy xác nhận ngày 02/02/2017 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Đăk Nông với nội dung: “Công ty TNHH sản xuất – thương mại – xuất nhập khẩu Gỗ Hữu Phát (gọi tắt là công ty Hữu Phát) có trụ sở tại 123D/4 Nguyễn Ảnh Thủ xã Trung Chánh – Hóc Môn – TP.HCM do ông Nguyễn Hữu H làm giám đốc có khai thác hai dự án trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, cụ thể:
- Dự án thứ nhất: Ký hiệu S08 – S09 thuộc địa bàn xã Đắk Win – Cư Jut tổng diện tích 06 ha trữ lượng gỗ căm xe chiếm tỷ lệ 99%.
- Dự án thứ hai: khu vực rừng dân sinh thuộc xã Đắk Gằn huyện Đăk Mil, tổng diện tích 02 ha với trữ lương gỗ 90% gỗ Ké.
Căn cứ theo chủ trương của Chính Phủ và của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông, tất cả các dự án đã và đang khai thác trên địa bàn tỉnh đều pH tạm dừng khai thác và vận chuyển cho tới hết ngày 05 tháng 3 năm 2017. Diện tích và trữ lượng khai thác của các đơn vị sự nghiệp sẽ được bảo lưu hoàn toàn chiếu theo quyết định cấp phép của các cấp chính quyền.
Sở Nông nghiệp và Phát trển Nông Thôn tỉnh cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị sự nghiệp – trong đó có công ty Hữu Phát hoàn thiện khối lượng công việc bao gồm khai thác và vận chuyển trữ lượng lâm sản mà đơn vị đó đang khai thác trên địa bàn tỉnh Đăk Nông sau khi có quyết định mở cửa rừng ngày 05 tháng 3 năm 2017”. Giấy xác nhận có chữ ký, chữ viết của ông Lê Trọng Yên là Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông và đóng dấu tròn của Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông. Chi phí làm giấy xác nhận giả là 5.000.000 đồng.
Ngày 05/02/2017, H đến gặp anh Sử nhưng anh Sử không ở nhà nên H đã đưa giấy xác nhận này cho chị Nguyễn Thị Phượng (vợ anh Sử); đồng thời, H gọi điện thoại cho anh Sử, nói với anh Sử việc H đang có dự án khai thác gỗ tại tỉnh Đăk Nông đã được Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông cấp phép nhưng hiện tại chưa được khai thác, khi nào được khai thác có nguồn thu thì H sẽ trả nợ đã vay cho anh Sử. Sau đó, anh Sử đã gọi điện cho chị Phượng yêu cầu chị Phượng chụp ảnh lại giấy xác nhận này và gửi qua điện thoại cho anh Nguyên để anh Nguyên gửi qua bưu điện cho anh Lê Văn Hùng nhờ kiểm tra, xác minh về giấy xác nhận. Anh Hùng đã gửi giấy xác nhận qua điện thoại cho ông Lê Trọng Yên và được ông Lê Trọng Yên cho biết Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông không cấp giấy xác nhận khai thác gỗ cho Công ty Hữu Phát, giấy xác nhận này là giả (BL 120-140).
Tại Báo cáo số 146/BC-SNN ngày 09/02/2017 của Sở NN&PTNT tỉnh Đăk Nông về việc giấy xác nhận giả danh Sở NN&PTNT đã nêu: “Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đăk Nông khẳng định không sử dụng chữ ký và con dấu của Sở để cấp Giấy phép/Giấy xác nhận khai thác gỗ cho Công ty TNHH Sản xuất – Thương Mại – Xuất nhập khẩu gỗ Hữu Phát trên địa bàn tỉnh Đăk Nông; Các nội dung ghi trong Giấy xác nhận là hoàn toàn bịa đặt của đối tượng xấu nhằm mục đích lừa đảo, làm ăn phi pháp; chữ ký trên văn bản là chữ ký giả, không pH chữ ký của đồng chí Lê Trọng Yên – Giám đốc sở; khuân dấu sử dụng trong văn bản nêu trên cũng là dấu giả, không pH của Sở Nông nghiệp và PTNT” (BL 20).
Tại Kết luận giám định số 50 – GĐTL/PC54 ngày 22/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận:
“- Hình dấu tròn có nội dung “SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A),so với hình dấu tròn có nội dung “SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN” trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M) không pH do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Lê Trọng Yên dưới mục Giám đốc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A),so với chữ ký mang tên Lê Trọng Yên trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M) là chữ ký khác dạng nên chúng tôi không đủ cơ sở kết luận có cùng một người ký hay không cùng một người ký ra được” (BL 35-36).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, đã tuyên xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 267; điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 25/8/2017 đến ngày 29/9/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vào ngày 13/12/2017, bị cáo Nguyễn Hữu H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25/12/2018 bị cáo Nguyễn Hữu H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp ca tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà trình bày ý kiến: Toà cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu H, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên Tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hữu H vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2 không có lý do, dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Hữu H bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Nhận định của Hội đồng xét xử: Hành vi phạm tội của bị cáo là thuê người làm giả giấy xác nhận của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông cho công ty Hữu Phát (do bị cáo làm giám đốc) khai thác gỗ trên địa bàn tình Đắk Nông. Mục đích làm giả này là để kéo dài thời gian trả nợ cho anh Phạm Văn Sử.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xả hôi, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, làm ảnh hưởng đến uy tín của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên khi lựng hình cấp sơ thẩm đã cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Thậm chí cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 3, Điều 7 của Bộ luật hình sư năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc áp dụng những điều khoản có lợi cho bị cáo nên đã tuyên mức hình phạt cho bị cáo là 06 tháng tù là tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo pH chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của bi cáo Nguyễn Hữu H;
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 267; các điểmh, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 25/8/2017 đến ngày 29/8/2017.
[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu H pH chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSND cấp cao tại TP.HCM;(1) - TAND tỉnh Đắk Nông; (2) - VKSND tỉnh Đắk Nông;(1) - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; (1) - Công an tỉnh Đắk Nông; (1) - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; (1) - Bị cáo; (1) - Lưu. (4) CÁC THẨM PHÁN Đỗ Đình Thanh Lê Thành Văn | Phan Văn Yên THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |