vanban.org

Bản án 715/2016/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 30/06/2016 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/06/2016 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành

phố Hà Nội, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 69/2016/HSST ngày 69/4/2016 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội. hình sự; Pháp lệnh số 10 ngày 27.2.2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành
  • Căn cứ chính? Điều 25 Bộ luật hình sự xử miễn trách nhiệm hình sự; Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Hư…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 715/2016/HSPT
Ngày: 30/6/2016

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trƣơng Việt Toàn

- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Từ Bắc, ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vương Thị Vân Anh, cán bộ

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Minh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 661/2016/HSPT ngày 03 tháng 6 năm 2016 đối với bị cáo Trương Thị Đ do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, Hà Nội đối với bản án hình sự sơ thẩm số 69/2016/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội:

Bị cáo bị kháng nghị:

Trƣơng Thị Đ, sinh năm: 1960; Trú tại: Tổ 4, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Văn hoá: 7/10; con ông Trương Văn T (đã mất) và bà Lê Thị O; chồng Đặng Đình T (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1984; Danh chØ b¶n sè 65 lËp ngµy 18/12/2015 t¹i C«ng an quËn L, Hµ Néi; TiÒn ¸n, tiÒn sù: 02 tiền sự đã được xoá; bÞ b¾t t¹m gi÷, t¹m giam ngµy 15/12/2015, trả tự do ngày 13/4/2016, cã đơn xin vắng mÆt t¹i phiªn tßa.

NHẬN THẤY:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận L, bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11h30’ ngày 15/12/2015 Đ đi xe đạp đến nhà Trần Chí T tại 97 phố Ngọc Lâm, quận L, Hà Nội để mua ma tuý sử dụng. Tại cổng nhà T, Đ gặp và mua của T 01 gói ma tuý giá 130.000đ. Sau khi mua được ma tuý Đ cầm gói ma tuý trên tay rồi đi xe về đến trước cửa nhà số 15 phố L, phường N, quận L, Hà Nội thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ tang vật, bao gồm: 01 gói giấy màu trắng bên trong có chất bột Đ khai là heroin và 01 chiếc xe đạp kiểu dáng hai gióng màu nâu.

Cơ quan điều tra-Công an quận L đã T hành lấy lời khai của T và cho đối chất với Trương Thị Đ nhưng T không thừa nhận đã bán ma tuý cho Đ nên cơ quan điều tra chưa có điều kiện làm rõ để xử lý.

Tại bản kết luận giám định số 343/PC54 ngày 19/1/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hà Nội kết luận: 01 gói chất bột màu trắng có thành phần heroin, trọng lượng bột 0,200 gam, hàm lượng heroin là 33,94%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 69/2016/HSST ngày 13/4/2016 của Tòa

án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 25; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trương Thị Đ, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí, quyền

kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15 tháng 4 năm 2016 Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố

Hà Nội kháng nghị phúc thẩm đề nghị xử phạt tù giam đối với Trương Thị Đ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

-Về hình thức: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành

phố Hà Nội trong hạn luật định là hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

-Về nội dung: bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên căn cứ vào lời

khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm có căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo có hành vi tàng trữ 0,200 gam heroin, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trương Thị Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248 BLTTHS, khoản 1 Điều 194 BLHS chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo Trương Thị Đ 18-24 tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên

tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

XÉT THẤY:

Về hình thức: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành

phố Hà Nội trong hạn luật định là hợp lệ, nên được chấp nhận.

Về nội dung: bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên căn cứ vào lời khai

của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15 tháng 12 năm 2015, tại cửa nhà số 15 phố L, phường N, quận L, thành phố Hà Nội, Trương Thị Đ có hành vi tàng trữ 0,200 gam heroin, hàm lượng 33,94% thì bị phát hiện bắt quả tang.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hà Nội,

Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất độc dược, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác. Bị cáo đã có hành vi cất giấu 01 gói ma tuý, cân nặng 0,200 gam mục đích sử dụng. Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn nhận

tội, bị cáo tàng trữ 01 túi heroin cân nặng 0,200 gam, hàm lượng 33,94% quy ra tinh chất heroin 0,067 gam. Căn cứ vào Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVII các tội phạm về ma túy và Công văn hướng dẫn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014 và mục 2 điểm 3 Công văn 315/TANDTC-PC ngày 11/12/2015 của Tòa án nhân dân tối cao, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 25 Bộ luật hình sự xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trương Thị Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là phù hợp. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hà Nội, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành

phố Hà Nội, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 69/2016/HSST ngày 69/4/2016 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 25 Bộ luật

hình sự; Pháp lệnh số 10 ngày 27.2.2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trương Thị Đ.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ