vanban.org

Bản án 713/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Võ Anh T.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc T, bị cáo Nguyễn Thanh L và bị cáo Nguyễn Thanh P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2022/HS - ST ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Tòa án tỉnh Tiền Giang: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phúc T, Võ Thị Bảo Tr, Trần Tiến T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh H, Võ Anh T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phúc Thảo - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Võ Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Phúc T mức án Chung thân; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Phúc T mức án Chung thân
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 713/2022/HS-PT
Ngày: 22-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Ông Nguyễn Văn Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vg - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/9/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công Ki vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 248/2020/TLPT- HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, Võ Anh T, Nguyễn Thanh P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2022/HS - ST ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Tòa án tỉnh Tiền Giang.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Phúc T (T Năm Bình), sinh năm 1995 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Bình Lợi, xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1964 và bà Cai Thị M, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: 01 cụ thể: Ngày 02/7/2018 bị Công an xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma Ty” Thi hành xong ngày 04/7/2018; Tiền án: 01 cụ thể: Ngày 21/02/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Hủy hoại T sản” theo bản án số 27/2019/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2020, chấp hành xong phần dân sự ngày 25/6/2019.

Nhân thân: Ngày 08/6/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 47 tháng 04 ngày về tội “Cố ý gây Th tích” theo bản án số 78/2011/HSST. Chấp hành xong phần dân sự ngày 10/5/2013.

Bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2020, chuyển tạm giam từ ngày 22/4/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thanh L ( L Mèo), sinh năm 1988 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Ng, sinh năm 1970; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: 01 cụ thể: Ngày 08/7/2011 Công an thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng; Tiền án: 01 cụ thể: Ngày 23/5/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây Th tích” theo bản án số 52/2018/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2019.

Nhân thân: Ngày 14/3/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2009 đến ngày 02/8/2009 và từ ngày 12/4/2010 đến ngày 09/7/2010. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Cố ý gây Th tích” theo bản án số 36/2011/HSST.

Bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2020, chuyển tạm giam từ ngày 22/4/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Võ Anh T, sinh năm 1992 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Mỹ Thọ, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N ( Chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm năm 1967; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2020, chuyển tạm giam từ ngày 22/4/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Thanh P ( Châu), sinh năm 1996 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Ng, sinh năm 1970; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thanh P: Luật sư Võ Trọng Kỳ - Chi nhánh Văn phòng Luật sư Võ Trọng Kỳ - thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Võ Anh T: Luật sư Nguyễn Văn Thủy và Luật sư Phạm Đức Bình – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 10/4/2020, Võ Thị Bảo Tr chơi đánh bài cùng với Nguyễn Kim V (Đen), sinh năm 1980, cư trú số: 99/6 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang và một số người khác trước dãy phòng trọ số 78/1 Khu phố 4, đường Lê Văn Phẩm, Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Trong lúc chơi bài, giữa Tr và V xảy ra mâu thuẫn, V dùng chân đá vào mặt của Tr 01 cái, đuợc can ngăn nên tất cả giải tán ra về. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Tr điều khiển xe biển kiểm soát 63C1- 210.91 chở Huỳnh Cẩm V xuống nhà của Dương Văn L (Tùng L), sinh năm 1983, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang để gặp Nguyễn Phúc T (bạn trai của Tr) và Nguyễn Thanh L (L Mèo). Tại đây, Tr kể cho T, L nghe việc bị V đánh và kêu T tìm đánh V. T điện thoại nhờ Võ Anh T cùng đi. Sau đó, T kêu Tr về. Trên đường chở Huỳnh Cẩm V về Tr có nói với V là “sáng mai ghệ chị (T) tìm V đánh dằn mặt”, Tr kêu V ngày mai (ngày 11/4/2020) đến chổ chơi đánh bài (hẻm Cosy) ở dãy phòng trọ số 78/1 Khu phố 4, đường Lê Văn Phẩm, Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang canh chừng nếu thấy V đến thì thông báo cho Tr biết để T đến đánh V, V đồng ý.

Cũng trong đêm ngày 10/4/2020, tại nhà Tr thuê ở trọ tại số 48 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, Tr tiếp tục kêu T tìm V đánh, thì T đồng ý. Sáng ngày 11/4/2020, với mục đích tìm V chém trả thù cho Tr, T đến nhà Dương Văn L (Tùng L), T cùng với L chuẩn bị hung khí, T lấy 01 cây dao tự chế ra mài, L cũng mài 01 con dao tự chế. T điện thoại cho Võ Thành Ng, sinh năm 1997, cư trú: ấp Mỹ Lương, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang lấy lại con dao (Loại dao cánh bướm Ng đã mượn trước đó), Ng đem đến nhà Tùng L trả cho T. T điện thoại cho Nguyễn Duy Kng, sinh năm 2000, cư trú: ấp Vĩnh Phước, xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang để mượn súng nhưng Kng nói không có súng và kêu T điện thoại cho Lê Thành Th (Bá Hội) sinh năm 1993, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để mượn cây súng. Do Th không nghe điện thoại nên T trực tiếp đến trại nuôi gà của Lê Văn C (Sáu Gỗ), sinh năm 1988, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nơi Th làm công, T tự lấy 01 khẩu súng và đạn đem về nhà Tùng L. T cùng L tìm hiểu cách sử dụng súng. Việc T, L chuẩn bị hung khí có mặt của Nguyễn Minh T (T Bà Bằng), Trần Văn V (Vũ Chính Què), Nguyễn Thanh P (Châu) và Văn Bá Bảo Knh (Knh Nhỏ).

Sau khi chuẩn bị dao và súng, T điện thoại cho Võ Anh T, T rủ thêm Nguyễn Minh Tr, Trần Tiến T (Thiện Lớn) và Nguyễn Minh H (Củn nhỏ) cùng tham gia. T và L mang theo súng và dao tự chế bỏ trong cóp xe biển số kiểm soát 63B9-556.05 của T rồi chạy về hướng Mỹ Tho và hẹn gặp nhóm của T tại nhà trọ của Tr tại số 48 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang lúc này khoảng 11 giờ ngày 11/4/2020. Tại nhà trọ của Tr, nhóm 4 người gồm T, Thiện, Trí và Hiền được Tr kể lại việc bị V đánh, Tr nhờ T, Thiện, Trí, Hiền tìm đánh V, khoảng 15 phút sau T và L đến. T lấy điện thoại tìm Facebook lấy hình của V ra cho L, T, Thiện, Trí và Hiền cùng xem để biết mặt nhận diện để không chém lầm người. Lúc này Tr điện thoại cho V hỏi V đang ở đâu thì V nói còn ngủ, chưa có chở mẹ qua chơi đánh bài. Khoảng 12 giờ, V qua nơi chơi bài thấy không có V nên điện thoại thông báo cho Tr biết là V không có mặt ở đây, Tr nói với V ở đó canh chừng khi V đến thì báo Tr L vì nhóm T đang ở nhà Tr đợi. T kêu T, Thiện, Trí và Hiền ở lại phòng trọ ăn uống, nghỉ và đợi khi nào biết V đến thì đi tìm để giải quyết mâu thuẫn cho Tr, nói xong T và L đi uống cà phê.

Đến khoảng 15 giờ ngày 11/4/2020, Huỳnh Cẩm V thấy V đến chơi bài nên điện thoại cho Tr biết V đã đến đồng thời mô tả đặc điểm của V cho Tr biết là V mặc áo thun màu xanh. Sau khi nhận được thông báo của V, Tr kêu T điện thoại cho L kêu T về vì V đã đến nơi đánh bài. Sau khi T và L về, T mở yên xe lấy 01 con dao dài 56,5cm, cán ốp gỗ dài 16,5cm, rộng 3,5cm bề dày 2,5cm. Phần lưỡi nơi rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 04cm, có mũi nhọn (loại dao cánh bướm) đưa cho Thiện, lấy 01 con dao bằng kim loại dài 62,5cm, cán dài 20cm, đường kính tròn 2,8cm, có quấn băng keo đen, lưỡi dao dài 42,5cm một mặt sắc, mũi nhọn đưa cho Hiền và đưa cho L 01con dao tự chế dài 60cm, cán dao bằng kim loại dài 21cm, đường kính tròn 03cm, có quấn băng keo màu đen, phần lưỡi rộng nhất 5,5cm, hẹp nhất 03cm, mũi không nhọn cùng với 01 Ti màu đen đựng khẩu súng. Trước khi đi tìm V, T lấy băng keo đen dán biển số xe của mình, T lấy băng keo đen dán biển số xe của Thiện, Thiện lại tiếp tục lấy băng keo đen dán thêm, còn Hiền dán biển số xe của Trí.

Khi đã chuẩn bị xong, Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i màu trắng đen biển kiểm soát 63C1-210.91 chạy trước dẫn đường, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu trắng, biển kiểm soát 63B9-556.05 của T chở L chạy phía sau. T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future biển kiểm soát 63B5-385.92 chở Thiện (xe này do chị Phạm Hồng Tr, sinh năm 1969, ngụ ấp Phú Quới, xã Yên Luông, Gò Công Tây đứng tên sở hữu) chạy kế tiếp xe T và Trí điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen, biển kiểm soát 63B6-165.89 chở Hiền (xe này do Nguyễn Văn H (Ba Lùn), sinh năm 1972, ngụ ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây đứng tên sở hữu). Khi cả nhóm đến hẻm vào dãy nhà trọ số 78/1 Khu phố 4, đường Lê Văn Phẩm, Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nơi V chơi bài thì Tr đậu xe ở ngoài đầu hẻm, nhóm của T chạy vào trong hẻm tìm chém V. Khi thấy nhóm T chạy vào, V bỏ chạy, L rút súng ra bắn (theo L Ki là bắn chỉ thiên để uy hiếp tinh thần) nhưng do không sử dụng thành thạo nên làm rớt 03 viên đạn xuống đường. Lúc này T vừa hô to“Nó kìa chém chết nó” vừa chụp lấy con dao của L chém V, nhưng không trúng. Khi V chạy ngang Thiện và T, thì Thiện dùng dao chém trúng giữa lưng V, V chạy một đoạn khoảng 5m thì té ngã xuống đường, lúc này Hiền chạy tới dùng dao chém 01 nhát vào chân pH của V, T chạy đến chém vào vùng vai, đầu và lưng của V. V được người dân đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong. Sau khi đâm chém V xong, L điều khiển xe chở T, T chở Thiện, Trí chở Hiền rời khỏi hiện trường, khi đến khu vực Quảng trường thuộc Quốc lộ 50, Thiện và Hiền đưa dao lại cho T, sau đó Thiện chở T, Trí chở Hiền chạy về Gò Công Tây còn L chở T về nhà Tùng L

Khi L chở T về tới nhà Tùng L, Văn Bá Bảo Knh và Nguyễn Minh T chạy ra mở cửa cho T và L, T đưa cho Nguyễn Minh T 02 con dao của Thiện và Hiền sử dụng chém V, đưa cho Knh 01 con dao T sử dụng chém V. T thấy dao có dính máu nên đem đi rửa rồi cất dưới sàn giường phía sau nhà, còn súng và đạn L để trên ghế salon trong nhà. Sau đó T điều khiển xe chạy đi, còn L thì đi chơi game. Khoảng 15 phút sau L chạy xe về nói cho T biết thằng hồi chiều chém chết rồi, nên kêu T dọn dẹp cất giấu hung khí gây án cùng với số hung khí có sẳn trong nhà Tùng L, lúc này có mặt của Nguyễn Vĩnh H (Cù Là), cư trú: ấp Bình An, xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. T lấy 03 con dao ra dùng bao mũ màu đỏ quấn lại, trong lúc T đang cột 03 con dao để đem cất giấu thì Phạm Bảo A (Bảo), sinh năm 1999, cư trú: ấp Long Hòa B, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đi cùng Nguyễn Minh K (K 2 Búp), sinh năm 1999, cư trú: ấp Mỹ Lương, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được Tr nhờ xuống nói cho T biết là V đã chết, sau đó T kêu Nguyễn Vĩnh H cùng với T và Knh Nhỏ đem số hung khí gây án và dao tự chế ở nhà Tùng L ra vườn bưởi sau nhà cất giấu. Khi T và L đã bỏ trốn, L kêu Trần Văn V dọn dẹp hết tất cả các hung khí rồi giải tán. Lúc này Lê Thành Th (Bá Hội), sinh năm: 1993, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vừa đến chơi nên Trần Văn V kêu Th đem súng về cất dùm. Th nhìn thấy súng giống cây súng trước đó Th để tại trại gà của Sáu Gỗ nên đồng ý đem về cất.

Đến khoảng 20 giờ ngày 12/4/2020 nhóm Nguyễn Minh T, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Vĩnh H, Văn Bá Bảo Knh, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Văn Chế Th đến chơi tại nhà Dương Ngọc Th thì Võ Trọng Ng (Bảy Nhóc) điện thoại cho Nguyễn Thanh P nói L điện thoại về kêu P tách số hung khí gây án với số hung khí có sẳn tại nhà Tùng L ra làm hai rồi đem cất giấu hai nơi để Công an khó phát hiện, nghe vậy P kêu Nguyễn Vĩnh H và Văn Bá Bảo Knh đi làm việc này (do H và Knh là 02 người đã cất giấu trước đó), do sợ ma nên H và Knh kêu thêm Thanh và P cùng đi. P và Thanh đi theo rọi đèn pin cho H và Knh thực hiện việc chia tách, giấu số hung khí này, cả nhóm trở về nhà Dương Ngọc Th chơi tiếp rồi giải tán. Khoảng 08 giờ ngày 13/4/2020 trước khi ra đầu thú Nguyễn Thanh L điện thoại cho P kêu tách 03 cây dao là hung khí gây án, trong đó 02 cây để sau nhà Tùng L, còn 01 cây thì cất giấu nơi khác nên P kêu Knh thực hiện theo yêu cầu của L. Knh thực hiện theo yêu cầu của P lấy 01 cây dao gây án trong số 03 cây đem cắm xuống mương sau vườn bưởi và lấy mảnh bao che lên

Sau khi biết V đã chết, T điện thoại thông báo cho T, T tiếp tục thông báo cho Trí và Thiện rồi hẹn gặp nhau tại nhà của Nguyễn Văn H (Ba Lùn), sinh năm 1972, cư trú: ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Tại đây cả 4 bàn bạc đi trốn ra tỉnh Bình Thuận, việc bàn bạc đi trốn, không cho H biết, rồi rủ H đi chơi. Do H có bạn gái sống ngoài Bình Thuận nên H đồng ý đi theo. Đến ngày 13/4/2020 cả 4 đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang đầu thú.

* Khám nghiệm hiện trường ghi nhận:

Hiện trường vụ án “Giết người” xảy ra tại đường đá xanh trước dãy nhà trọ số 78/1 Lê Văn Phẩm, khu phố 4, Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang có hướng Đông là đường bê tông rộng trung bình 03m, chạy theo hướng Bắc Nam, tiếp theo là tường rào bê tông của quán cà phê - Karaoke Cosy. Phía Tây là ngã ba đường đá xanh đi thẳng hướng Tây Nam, đường bê tông đi về phía Bắc rộng 2,3m. Phía Bắc giáp tường rào nhà số 78/2 đường Lê Văn Phẩm. Phía Nam giáp dãy nhà trọ số 78/1, cách 65m là đường Lê Văn Phẩm.

Trung tâm của hiện trường là đoạn đường đá xanh gần ngã ba đường, trước phòng trọ số 16 của dãy nhà trọ số 78/1 đường Lê Văn Phẩm. Đoạn đường trước phòng trọ số 16 rộng trung bình 4,6m có tráng bê tông. Đối diện phòng trọ số 16 là ngã ba đường. Dãy nhà trọ gồm 4 phòng được đánh số từ 14 đến 17. Đoạn đường đá xanh chạy hướng Đông Tây, đầu phía Đông giáp đường bê tông chạy hướng Bắc Nam ra đường Lê Văn Phẩm

Từ cửa phòng trọ số 16 về phía đông 14,4m, cách vách phòng trọ số 13 là khoảng cách 90cm có vết màu đỏ nghi máu dạng vệt, kích thước (30x10)cm. Cách vết màu đỏ nghi máu về phía Đông 22cm, cách vách phòng trọ số 13 là 20cm có vũng màu đỏ nghi máu, kích thước (80x70)cm. Từ vũng màu đỏ nghi máu trên đường đá xanh có vết màu đỏ nghi máu dạng nhỏ giọt không liên tục về phía Đông dài 1,3m sau đó chuyển hướng sang phía nam 1,5m. Từ vũng màu đỏ nghi máu trên đường đá xanh về phía Đông Bắc 2,3m, sát vách tường nhà số 78/2 có 01 đôi dép màu nâu ( một chiếc dép trái nằm ngữa, một chiếc dép pH lật úp), hai chiếc dép cách nhau 10cm, dép có kích thước (28x10x7)cm. Sát chiếc nhựa pH về phía Đông có 01 cái mũ vải lưỡi trai màu đen. Cách vũng máu màu đỏ nghi máu trên đường đá xanh 0,5cm về phía Nam trước phòng trọ số 13 có 01 ly nhựa màu trắng kích thước (12x10x6)cm, có nắp đậy bên trong chứa dung dịch màu đen vàng, ly nhựa được bỏ vào Ti nylon hai quay xách màu trắng.

* Khám nghiệm tử thi Nguyễn Kim V ghi nhận:

Tại bản Kết luận pháp y về tử thi số 120/2020/TTh ngày 11/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang ghi nhận: Nạn nhân Nguyễn Kim V có các vết Th chính như sau:

Khám ngoài:

- Tử thi nam cao 1,63m, thể trạng trung bình, tóc đen ngắn. Xăm hình trước ngực pH hai con rồng. Xăm vai trái hình bông hồng. Lòng bàn tay pH và tay trái dính nhiều máu.

- Tử thi mặc áo thun cổ tròn ngắn tay màu xanh, bông trắng, mặc quần Jean lững màu xanh, băng thun quanh bụng, băng gạc cẳng chân pH, quần lót màu xanh viền xanh, chữ đỏ.

- Vùng đầu, mặt có vết Th giữa trán đỉnh, kích thước (3x0,5) chỗ hẹp 0,2cm, bờ nham nhở, từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ ngoài vào trong, vết Th sâu 0,5cm, lún bản sọ ngoài.

- Vùng ngực, bụng, lưng:

+ Vai trái có 03 vết Th: Vết Th thứ nhất: lóc da, kích thước (9x5)cm, bờ sắc gọn, vết Th từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ sau ra trước, bầm dưới ngoài vết Th, kích thước (5x3)cm. Vết thứ hai, kích thước (10x1)cm, bờ sắc gọn, cách vết thứ nhất 1,3cm, hướng từ pH sang trái, từ ngoài vào trong, từ sau ra trước sâu 0,5cm. Vết thứ ba, kích thước (5,5x1,5)cm, sâu 2,5 cm, cách vết Th thứ hai là 0,5cm, xước da thẳng dọc từ vết Th xuống dưới, kích thước (19x0,2)cm, hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ ngoài vào trong.

+ Vết xước da dưới vai pH, kích thước (7,5x0,2), cách vết Th thứ ba là 15cm, cách bờ dưới xương bả vai 1cm.

+ Vết Th đường nách sau bên trái khoảng cung bên sườn VIII, IX bên trái, kích thước (3x1,4)cm, sâu 01cm, hướng từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, bầm tụ máu đầu trên vết Th, kích thước (3x1,5)cm.

+ Vết Th đốt sống ngực 11,12 đứt thắt cơ lưng hai bên, kích thước (24x6,5)cm, sâu 09cm, đứt tủy sống, bờ sắc gọn, hướng từ trên xuống dưới, từ pH qua trái, từ sau ra trước, đứt đốt sống thắt lưng 1.

- Hai chi trên, chi dưới: Vết Th đứt 1/3 giữa sau trước cẳng chân pH kích thước (12x4)cm, bờ sắc gọn, đứt cơ bụng dưới hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong, gãy 1/3 giữa xương chày pH. Xây sát da gối chân pH, kích thước (3,5x2)cm. Xây sát da gối trái, kích thước (3x2)cm.

Khám trong:

- Da đầu và tổ chức dưới da đầu không tụ máu; Cơ thái dương hai bên không tụ máu; Hộp sọ không nứt; Tụ máu trùng với vết Th trán đỉnh, kích thước (2,5x1,5)cm.

- Mở hộp sọ: Ngoài màng cứng không tụ máu.

- Cắt màng cứng: xuất huyết màng nhện đỉnh chẩm pH, kích thước (10x6)cm, xuất huyết màng nhện chẩm trái, kích thước (7x5)cm, xuất huyết quanh tiểu não. Xẻ nhu mô não không tụ máu. Sàng sọ không nứt.

- Mở ngực, bụng: Da và tổ chức dưới da ngực, bụng không tụ máu, Xương ức và cung sườn trước bên pH, trái không gãy.

- Mở khung sườn: phổi pH, trái xẹp, khoang màng phổi sạch, bề mặt phổi có nhiều bụi than

- Bầm tụ máu cung sườn sau bên pH từ IX đến XII, kích thước (8x8)cm.

- Mở trung thất: tim, kích thước (10x5x4)cm.

- Mở ổ bụng: Gan, lách, thận hai bên, tụy, dạ dày, ruột non, ruột già không tổn Th

- Mở phúc mạc sau thấy đứt rời đốt sống ngực XII và thắt lưng 1, đứt tủy sống.

Dấu hiệu chính qua giám định:

- Xuất huyết màng nhện đỉnh chẩm pH, xuất huyết màng nhện chẩm trái, xuất huyết quanh tiểu não.

- Phổi trái xẹp. Phổi pH xẹp.

- Bầm tụ máu cung sườn sau bên pH từ IX đến XII

- Mở phúc mạc sau thấy đứt rời đốt sống ngực 12 và thắt lưng 1, đứt tủy sống.

Kết luận giám định: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Kim V do mất máu cấp, đứt rời cột sống ngực 12 và thắt lưng 1, đứt rời tủy sống đoạn ngực 12 và thắt lưng 1. Xuất huyết dưới nhện.

Tại biên bản xem dấu vết trên thân thể Võ Thị Bảo Tr ngày 12/4/2020 thì Tr có vết bầm tụ máu dưới mắt pH, kích thước ( 3x2)cm.

* Kết quả giám định:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang đã tiến hành trưng cầu Phân viện khoa học Hình sự Bộ Công an tại TP Hồ Chí Minh giám định vết máu và kiểu gen trên 02 con dao thu được khi khám xét nơi các đối tượng tụ tập và cất giấu hung khí kí hiệu A1 và A2 với máu của Nguyễn Kim V (ký hiệu M). Tại bản Kết luận giám định số 2200/C09B ngày 11/5/2020 của Phân viện khoa học Hình sự Bộ công an xác định: Trên lưỡi dao A2 (dao tự chế dài 56,5cm, lưỡi sắc nhọn trắng sáng, cán ốp gỗ màu đỏ sẫm dài 16,5cm, rộng 3.5cm; lưỡi dài 40cm, rộng nhất 6.5cm, hẹp nhất lưỡi 4cm, có 4 lỗ tròn và 3 lỗ dài dọc sống dao) có dính máu người, kiểu gen của mẫu máu này trùng với kiểu gen của Nguyễn Kim V (M).

- Tiến hành trưng cầu giám định khẩu súng, đạn do Lê Thành Th giao nộp và 03 viên đạn thu được tại hiện trường vụ án. Kết luận giám định của Phân viện khoa học Hình sự, Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh xác định:

- 01 (một) khẩu súng ngắn dạng ổ quay, bằng kim loại màu trắng ốp tay cầm màu đen gửi giám định nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm, sử dụng để bắn đạn hình cầu đường kính 6mm. Khẩu súng nêu trên đã được chế tạo thủ công để bắn đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm; các bộ phận của súng hiện còn đủ, lắp ráp đúng vị trí, hoạt động bình thường và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và nằm trong danh mục vũ khí quân dụng.

- 07 (bảy) viên đạn bằng kim loại dài 22mm (ký hiệu A2), gửi giám định là đạn cao su cỡ (9x22)mm và nằm trong danh mục công cụ hổ trợ.

- 14 (mười bốn) viên đạn (ký hiệu A2) và 03 (ba) viên đạn (ký hiệu A3) gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm và không pH vũ khí quân dụng. Loại đạn này được sử dụng để bắn với một số loại súng có cỡ nòng 5,6mm như: súng ám sát Hình sự bút máy, K55, TOZ8..., các loại súng được chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6mm và khẩu súng gửi giám định.

- Sử dụng khẩu súng có ổ quay gửi giám định bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm vào cơ thể có thể gây sát Th.

* Vật chứng thu giữ tại hiện trường gồm:

- Thu vết màu đỏ nghi máu tại vũng màu đỏ nghi máu trên đường đá xanh (giám định ADN).

- 01 (một) đôi dép bằng nhựa, màu nâu gồm 02 (hai) chiếc dép, mỗi chiếc có kích thước (28x10x7)cm (đôi dép bị cáo Thiện mang rớt lại hiện trường, đã cho nhận dạng). Tại biên bản nhận dạng lúc 10 giờ 20 phút ngày 22/4/2020 Trần Tiến T xác định mang đôi dép này Thiện mang khi đến hiện trường chém bị hại, khi rút lui Thiện bỏ lại đôi dép này.

- 01 (một) mũ lưỡi trai bằng vải, màu đen.

- 01 (một) ly nhựa màu trắng kích thước (12x10x6)cm, có nắp đậy bên trong chứa dung dịch màu đen vàng, ly nhựa được bỏ vào Ti nylon hai quay xách màu trắng.

- 03 (ba) viên đạn bằng kim loại có thân đạn màu vàng, đầu đạn màu đen dài 25mm. (đạn L sử dụng bắn làm rơi tại hiện trường). 03 (ba) viên đạn này chuyển Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang tạm giữ để điều tra.

* Khám xét khẩn cấp nhà bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1964 tại ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nhà Tùng L) nơi T và L gây án đem hung khí trở về cất giấu:

- 01(một) dao tự chế dài 60cm, cán dao bằng kim loại dài 21cm, đường kính tròn 03cm, có quấn băng keo màu đen, phần lưỡi rộng nhất 5,5cm, hẹp nhất 03cm, mũi không nhọn (dao bị cáo T dùng làm hung khí chém V đã cho nhận dạng). Tại biên bản nhận dạng lúc 08 giờ 45 phút ngày 16/4/2020, bị cáo T xác định con dao này do T và L chuẩn bị và T dùng làm hung khí chém V.

- 01 (một) dao dài 56,5cm, cán ốp gỗ dài 16,5cm, rộng 3,5cm bề dày 2,5cm. Phần lưỡi nơi rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 04cm, có mũi nhọn (dao bị cáo Thiện dùng làm hung khí chém V đã cho nhận dạng).Tại biên bản nhận dạng lúc 07 giờ 50 phút ngày 16/4/2020, bị cáo Thiện xác định con dao này do T đưa cho Thiện và Thiện dùng dao này chém V.

- 01 (một) dao tự chế dài 19,5cm, cán dài 10cm, phần lưỡi nơi rộng nhất 1,5cm, có mũi nhọn (loại dao bấm) (Con dao do bị cáo Nguyễn Thanh L mang theo để trong người khi đi tìm V giải quyết mâu thuẫn, đã cho bị cáo nhận dạng). Tại biên bản nhận dạng lúc 08 giờ 25 phút ngày 22/4/2020 L xác định con dao này L có mang theo trong người khi tìm V.

- 01 (một) dao tự chế dài 1,53m. Cán bằng kim loại dài 90cm, đường kính tròn 03cm, cán quấn vải màu đen, phần lưỡi rộng nhất 7,5cm, hẹp nhất 4,5cm, có mũi nhọn.

- 01 (một) dao tự chế dài 1,1m, phần cán dài 49cm, đường kính troi2n 03cm, phần đầu quấn vải màu trắng, phía dưới quấn băng keo đen. Phần lưỡi rộng nhất là 7cm, hẹp nhất là 4,5cm, mũi nhọn.

- 01 (một) dao tự chế dài 1,47m, cán bằng gỗ dài 1,02m, đường kính tròn 3,5cm, phần lưỡi rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 4,5cm, mũi nhọn.

- 01 (một) dao tự chế dài 48cm, cán bằng kim loại dài 15cm, đường kính tròn 3,5cm, có quấn vải màu trắng. Phần lưỡi rộng nhất 03cm, mũi nhọn, kèm theo vỏ dao bằng giấy có quấn băng keo màu đen.

- 01 (một) dao tự chế dài 01m, cán bằng kim loại dài 40,5cm, đường kính tròn 4,5cm. phần lưỡi rộng nhất 7,5cm, hẹp nhất 05cm, mũi nhọn.

- 01 (một) dao tự chế dài 43cm, cán ốp gỗ dài 15,5cm, đường kính tròn 04cm, phần lưỡi rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 3,5cm, mũi nhọn. kèm theo có vỏ dao bằng vải màu đen.

* Vật chứng theo lời kể của Văn Bá Bảo Knh: 01 (một) dao bằng kim loại dài 62,5cm, cán dài 20cm, đường kính tròn 2,8cm, có quấn băng keo đen, lưỡi dao dài 42,5cm một mặt sắc, mũi nhọn (dao bị cáo Hiền dùng làm hung khí chém V, đã cho nhận dạng). Tại biên bản nhận dạng lúc 09 giờ 45 phút ngày 22/4/2020 bị cáo Hiền xác định con dao này T đưa cho Hiền và Hiền dùng làm hung khí chém V.

* Vật chứng do Lê Thành Th giao nộp:

- 01 (một) Ti màu đen có in chữ “THE NORTH FACE”.

- 01 (một) khẩu súng màu trắng đen, có trái khế dạng súng ru lô, trên súng có ghi chữ “OPEN F S” (súng bị cáo T và L sử dụng trong vụ án)

- 14 (mười bốn) viên đạn bằng kim loại màu vàng, đen loại nhỏ.

- 07 (bảy) viên đạn màu trắng vàng, loại lớn.

- 01(một) Điện thoại di động màu đen trắng, trên lưng máy có chữ Nokia, Imei 1: 357730102488955.

- 01(một) điện thoại di động màu đen, trên lưng máy có chữ Samsung, số seri R58M31DS1AZ

Đối với 01 (một) Ti màu đen có in chữ “THE NORTH FACE”; 01 (một) khẩu súng bằng kim loại (dạng côn quay) màu trắng, ốp tay cầm màu đen, trên súng có chữ “OPEN F S”; 14 (mười bốn) viên đạn bằng kim loại thân đạn màu vàng, đầu đạn màu đen dài 25mm; 07 (bảy) viên đạn bằng kim loại thân màu vàng, đầu đạn màu trắng do Lê Thành Th giao nộp chuyển Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang tạm giữ để điều tra.

* Vật chứng do bị cáo Nguyễn Phúc T giao nộp:

- 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu trắng xám, biển kiểm soát 63B9-556.05; số máy: JF46E6080322; số khung: 4614EZ154952 ( xe bị cáo T dùng làm phương tiện đi gây án)

- 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 63B9-556.05 tên Nguyễn Phúc T.

* Vật chứng do bị cáo Võ Thị Bảo Tr và Huỳnh Thị T giao nộp:

- 01 (một) xe mô tô màu trắng - đen nhãn hiệu Honda SH150i biển kiểm soát 63C1-210.91 (xe bị cáo Tr dùng làm phương tiện đi gây án).

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 111532 tên võ Thị Bảo Tr, xe biển kiểm soát 63C1-210.91

- 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia modei RM-1172, số IMEL 356935098216424 kèm 01 sim điện thoại mạng di động Viettel.

* Vật chứng do Nguyễn Văn H giao nộp:

- 01(một) xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen, biển kiểm soát 63B6-165.89 (xe bị cáo Trí dùng làm phương tiện đi gây án)

- 01(một) điện thoai di động hiệu Nokia màu đen, model TA1034, Imei 356967092688530 kèm sim điện thoại.

* Vật chứng do chị Phạm Hồng Tr giao nộp: Một (01) xe mô tô hiệu Honda Future Fi màu xanh bạc, biển kiểm soát 63B5-385.92; số máy JC76E0329743; số khung: 7639JZ021030 (xe bị cáo Thiện dùng làm phương tiện đi gây án).

* Vật chứng do Phạm Bảo A giao nộp: 01(một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh dương, số seri và IMEL: 864267044248797, kèm 01 sim điện thoại.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Future Fi, biển kiểm soát 63B5-385.92 do chị Phạm Hồng Tr, sinh năm 1969, ngụ ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang đứng tên chứng nhận đăng ký. Việc Thiện mượn xe này đi gây án chị Tr hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 1074/CSHS ngày 22/6/2020 trả lại cho chị Trang tiếp tục quản lý, sử dụng.

Đối với xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 63B6-165.89 do anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1972, ngụ ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, đứng tên chứng nhận đăng ký. Việc T mượn xe này đi gây án anh H hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 1852 ngày 01/7/2020 trả lại cho H tiếp tục quản lý, sử dụng.

* Về trách nhiệm dân sự.

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951, cư trú: 99/6 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang là mẹ đẻ của nạn nhân Nguyễn Kim V yêu cầu Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, Trần Tiến T, Nguyễn Minh H, Võ Anh T, Nguyễn Minh Tr, Võ Thị Bảo Tr bồi thường tiền mai táng, tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi con của nạn nhân V tổng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Các bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường gồm: bà Cai Thị Mai, sinh năm 1964 là mẹ ruột bị cáo Nguyễn Phúc T bồi thường 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); bà Lê Thị Ng, sinh năm 1970 là mẹ ruột bị cáo Nguyễn Thanh L bồi thường 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967 là mẹ ruột bị cáo Võ Anh T bồi thường 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); bà Nguyễn Thị Thu Tr, sinh năm 1968 là mẹ ruột bị cáo Trần Tiến T bồi thường 68.500.000 đồng (Sáu mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng); Ông Nguyễn Văn H là cha ruột bị cáo Nguyễn Minh Tr bồi thường 68.500.000 đồng (Sáu mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng); bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1977 là mẹ ruột bị cáo Nguyễn Minh H bồi thường 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1973 là mẹ ruột bị cáo Võ Thị Bảo Tr bồi thường 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng). Riêng đối với bị cáo Huỳnh Cẩm V là đồng phạm trong vụ án do việc khởi tố bị cáo được thực hiện khi đã kết thúc thỏa thuận dân sự nên đến nay gia đình bị hại chưa yêu cầu Huỳnh Cẩm V bồi thường khắc phục hậu quả.

* Đối với Nguyễn Bảo A (B), sinh năm 1999, cư trú: ấp Long Hòa B, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang và Nguyễn Minh K (K hai Búp), sinh năm 1999, cư trú: ấp Mỹ Lương, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang Ki: Vào khoảng 18 giờ ngày 10/4/2020 Võ Thị Bảo Tr có gọi điện thoại cho B A nhờ B A đến hẻm Cosy thuộc đường Lê Văn Phẩm, Phường 5 chở Tr về nhà dùm do Tr bị V đánh nhưng B A nói không đến. Vào khoảng 17 giờ ngày 11/4/2020 B A đang đi mua điện thoại tại cửa hàng FPT trên đường Nguyễn Trãi thì Tr điện thoại đến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (chỗ Tr thuê trọ) nhờ B A đến tiệm chơi game bắn cá tìm gặp bị cáo L nhắn dùm L nói cho T biết là “Thằng hồi chiều chết rồi, kêu T đừng lên Mỹ Tho nữa” thì B A có nói “sao chị không điện thoại nói trực tiếp cho T” thì Tr trả lời “điện thoại không được”. B A cũng không hỏi gì thêm, điều khiển xe chạy đi. Do không biết nơi L chơi game nên B A tìm gặp nhờ Nguyễn Minh K (K Hai Búp) chở đi tìm L. Khi đến gặp L (nhà Dương Văn L) B A nói cho L nghe như lời của Tr nhờ chuyển lời, chứ không nói thêm nội dung gì khác, còn K thì đứng ngoài đường. Theo lời Ki của B A và Nguyễn Minh K, cả hai không chứng kiến sự việc nhóm T gây án, không biết nội dung vụ án, không biết nạn nhân là ai, nạn nhân bị đâm chém như thế nào, và chết như thế nào, việc đi thông báo cho L vì Tr nhờ chứ không có mục đích thông báo để nhóm T bỏ trốn. Do đó, hành vi của NNguyễn Bảo A và Nguyễn Minh K chưa đủ cấu thành tội “Che giấu tội phạm” hoặc “không tố giác tội phạm”.

* Đối với Nguyễn Văn H (Ba Lùn) sinh năm 1972, cư trú: ấp Phú Quới, xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang Ki Nguyễn Minh Tr mượn xe mô tô biển kiểm soát 63B6-165.89 của H từ đầu tháng 4/2020 để đi làm, H không biết sự việc Trí sử dụng xe mô tô trên đi gây án tại thành phố Mỹ Tho. Vào khoảng 17 giờ ngày 11/4/2020 nhóm của T gồm: T, Thiện, Trí và T có đến nhà của H, nhưng H không biết nhóm T đi gây án. Sau đó, Trí rủ H đi chơi thì H đồng ý nhưng trả lời đi Phan Thiết chơi thì H đi còn chổ khác H không đi do H có bạn gái ở đó. Khi đến Phan Thiết, tại nhà của Nguyễn Thị Ngọc Hà, sinh năm 1978 (bạn gái H), biết được sự việc nhóm T, Trí, Thiện và T có liên quan đến vụ án giết người, H khuyên về đầu thú. Trong lúc T, Thiện, T và Trí ra đầu thú thì Nguyễn Văn H là người dẫn các bị cáo trên giao cho Cơ quan Công an và giao nộp xe 63B6-165.89. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn H không cấu thành tội phạm“Che giấu tội phạm” và “không tố giác tội phạm”.

* Đối với Lê Thành Th (Bá Hội), sinh năm1993, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Ki vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/4/2020, Th có ghé vào nhà Dương Văn L chơi thì Trần Văn V kêu Th đem súng về cất dùm, Th nhìn thấy súng giống cây súng để ở trại nuôi gà của Lê Văn C (Sáu Gỗ) nên đem về cất giữ. Th Ki không biết nội dung vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo, không biết đây là hung khí gây án sau khi các bị cáo trên thực hiện hành vi phạm tội trở về nhà của L (lời Ki này hoàn toàn phù hợp với lời Ki của bị cáo Trần Văn V). Khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập làm việc (khoảng 18 giờ ngày 11/4/2020), Th đã giao nộp khẩu súng và đạn và Ki báo rõ những gì mình biết. Do đó, hành vi của Lê Thành Th chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Che giấu tội phạm”.

* Đối với Nguyễn Văn Chế Th (Th Nhỏ), sinh năm 2001, cư trú: ấp Bình Lợi, xã Tân Mỹ Chánh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang Ki: Vào ngày 12/4/2020 Thanh có đến nhà Dương Ngọc Th chơi, khi sụp tối Knh Nhỏ và H (Cù Là) nói bên vườn bưởi (nhà Dương Văn L) có ma không dám đi qua đó nên Thanh đi cùng với P rọi đèn pin cho Knh và H đi và đứng bên ngoài rọi đèn pin cho H và Knh đem bao hung khí ra xa chổ củ cất giấu. Thanh nhận thức được H và Knh cất giấu dao tự chế nhưng không biết đó là hung khí của vụ án giết người ngày 11/4/2020 do nhóm Nguyễn Phúc T thực hiện. Thanh cũng không biết nội dung vụ án giết người, không biết ai là người thực hiện hành vi phạm tội, trong lúc cùng P rọi đèn pin cho H và Knh đi thì không ai nói cho Thanh biết (lời Ki của Thanh phù hợp với lời Ki của H, Knh và P). Hiện nay Thanh không có mặt tại địa phương nên chưa tiến hành làm việc được. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn Chế Th Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ Thanh thực hiện tội phạm sẽ xử lý sau.

* Đối với đối tượng Võ Trọng Ng (Bảy Nhóc), sinh năm 1992, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Ki: Vào khoảng 16 giờ ngày 11/4/2020 Nghĩa có đến nhà của Dương Văn L, thời điểm này có T, L, Vũ, Th, T, Knh và H (Cù Là), khi vừa đến khoảng 05 phút thì thấy T và L điều khiển xe chạy đi còn Vũ thì đưa cho Th (Bá Hội) 01 cái Ti bên trong không biết đựng vật gì. Tại đây Nghĩa không nghe ai bàn bạc, trao đổi gì về vụ án giết người, khoảng 30 phút sau Nghĩa về nhà.

Theo lời Ki bị cáo Nguyễn Thanh P, khoảng 20 giờ ngày 12/4/2020 Nghĩa đã điện thoại cho P nói là L điện thoại về cho Nghĩa kêu P tách bó dao không liên quan vụ án và bó dao là hung khí gây án ra cất giấu riêng hai nơi. Hiện nay, Nghĩa không có mặt tại địa phương nên chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ xác định hành vi của Nghĩa có vi phạm pháp luật sẽ xử lý sau.

* Đối với Lê Văn C (Sáu Gỗ), sinh năm 1988, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Ki khi nhóm của T, L thực hiện hành vi phạm tội thì Lê Văn C không biết, không chứng kiến vụ án xảy ra, khi biết được L và T gây án Cẩm vận động kêu L, T ra đầu thú. Cụ thể và ngày 12/4/2020 khi Nguyễn Phúc T điện thoại cho Cẩm thì Cẩm có hỏi T về vụ án và khuyên đối tượng ra đầu thú nhưng bản thân Cẩm không biết T và nhóm của T đang trốn ở đâu. Khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra mời làm việc Cẩm có Ki rõ và cung cấp số điện thoại của T cho cơ quan Cảnh sát điều tra, hành vi của Lê Văn C chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Che giấu tội phạm” và “không tố giác tội phạm”.

* Đối với Dương Ngọc Th, sinh năm 1996, cư trú: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Ki: Thái là em ruột của Dương Văn L (Tùng L) đang đi chấp hành án tại Long An. Thái là người trực tiếp trông nôm nhà của L. Đêm 10/4/2020 Thái có nghe việc Tr kể với T việc V đánh nhưng không biết sự việc Tr nhờ T đi đâm, chém trả thù, đêm đó Thái về nhà ngủ, đến chiều ngày 11/4/2020 (Khoảng 17 giờ) nghe dưới nhà L có nhiều tiếng nói nên Thái xuống xem thì được T nói cho biết là nhóm T, L chém chết người, Thái nghe T nói vậy bỏ về nhà. Thái Ki lúc về nhà có mở Facbook lên xem thì thấy sự việc do nhóm T gây ra, Cơ quan công an đã xác định được T là người gây án nên không trình báo. Vào đêm 12/4/2020 nhóm P, H, Knh và Thanh đi tìm nơi T cất giấu hung khí để tách ra giấu nơi khác Thái cũng không biết. Do đó, hành vi của Thái không cấu thành tội “Che giấu tội phạm” và“Không tố giác tội phạm”.

* Đối với Võ Thành Ng, sinh năm 1997, cư trú: ấp Mỹ Lương, xã Mỹ P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Ki: Vào ngày 11/4/2020 bị cáo Nguyễn Phúc T điện thoại cho Ng yêu cầu Ng trả cây dao mà Ng đã mượn của T trước đó (01 (một) dao dài 56,5cm, cán ốp gỗ dài 16,5cm, rộng 3,5cm bề dày 2,5cm. Phần lưỡi nơi rộng nhất 6,5cm, hẹp nhất 04cm, có mũi nhọn) nên Ng đem dao đến nhà Dương Văn L tìm T để trả. Ng Ki khi đến nhà L không thấy ai nên Ng để dao ở hành lang trước cửa nhà rồi đi câu cá với Lê Duy Th (đầu bạc), Ng không biết mục đích T đòi lại dao để làm gì và không biết về nội dung vụ án. Do đó, hành vi của Võ Thành Ng không đủ cấu thành tội phạm.

Đối với hành vi, tàng trữ sử dụng trái phép vũ khí quân dụng của Nguyễn Thanh L, Nguyễn Phúc T, Lê Thành Th, Lê Văn C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định khởi tố bổ sung vụ án, và ra quyết định khởi tố bổ sung quyết định khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Thanh L và Nguyễn Phúc T về tội “ Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Đồng thời đã tách, chuyển vụ án này đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang tiếp tục điều tra làm rõ hành vi Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, Lê Thành Th và Lê Văn C.

Đối với hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền xảy ra tại địa bàn Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang có Văn bản đề nghị Công an Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xác minh xử lý.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSTG-P2 ngày 29 tháng 01 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phúc T, Võ Thị Bảo Tr, Trần Tiến T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh H, Võ Anh T, Nguyễn Minh Tr và Huỳnh Cẩm V về tội “Giết người”, theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Vĩnh H, Văn Bá Bảo Knh, Trần Văn V và Nguyễn Thanh P về tội “Che giấu tội phạm”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2022/HS - ST ngày 25 tháng 3 năm 2022, Tòa án tỉnh Tiền Giang tuyên xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phúc T, Võ Thị Bảo Tr, Trần Tiến T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh H, Võ Anh T, Nguyễn Minh Tr và Huỳnh Cẩm V phạm tội “Giết người”.

-Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1Điều 52, Điều 17, Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Phúc T mức án Chung thân.

Tổng hợp hình phạt bản án số 80/2021/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang với mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Phúc T chịu hình phạt chung là chung thân.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2020.

-Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thanh L 20 (hai mươi) năm tù.

Tổng hợp hình phạt bản án số 80/2021/HSST ngày 15/11/2021 ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang mức án 02 (hai) năm tù. Bị cáo L chịu hình phạt chung là 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2020.

-Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Võ Anh T 16 (mười sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2020.

2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Vĩnh H, Văn Bá Bảo Knh, Trần Văn V và Nguyễn Thanh P phạm vào tội “Che giấu tội phạm”.

-Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 389, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án

3. Bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo Võ Thị Bảo Tr, Trần Tiến T, Nguyễn Minh H, Nguyễn Minh Tr và Huỳnh Cẩm V, Nguyễn Minh T, Nguyễn Vĩnh H, Văn Bá Bảo Knh, Trần Văn V.

Ngày 04/4/2022, các bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, Võ Anh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 01/4/2022, bị cáo Nguyễn Thanh P kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

*Bị cáo Võ Anh T xin rút toàn bộ đơn kháng cáo; các bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thanh P giữ nguyên kháng cáo.

*Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm:

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Đối với việc rút kháng cáo của bị cáo Võ Anh T, do bị cáo tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết kháng cáo đối với bị cáo T.

Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L: Tình tiết tăng nặng: Tái phạm; tình tiết giảm nhẹ: Đại diện bị hại xin giảm nhẹ. Tại phiên tòa phúc thẩm, cung cấp tình tiết mới là thân nhân có công cách mạng. Tuy nhiên, xét hành vi, vai trò của các bị cáo thì mức án phù hợp, không thể giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo.

Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P: Bị cáo có nhân thân tốt, thân nhân có công cách mạng nhưng hành vi nhiều lần đem dấu hung khí vụ án của bị cáo gây cản trở trong việc điều tra, đề nghị không chấp nhận kháng cáo.

* Người bào chữa trình bày:

Bị cáo T có động cơ và nguyên nhân phạm tội xuất phát vì người khác.

Bị cáo L: Hành động bắn súng cũng nhằm mục đích thị uy, chưa gây hậu quả gì.

Bị cáo P: Vì mục đích che dấu cho người anh ruột mà phạm tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới là nhân thân có công cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo T và L. Riêng bị cáo P xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo để chăm sóc cha mẹ trong khi anh trai bị cáo đã bị phạt tù trong vụ án.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo T, L: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về giúp đở gia đình, làm việc có ích cho xã hội.

Bị cáo P: Xin cho bị cáo được hưởng án treo để chăm lo cho cha mẹ già.

Bị cáo T: Không nói gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Võ Anh T xin rút đơn kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo là tự nguyện và hợp lệ, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo T, bị cáo L và bị cáo P:

Các bị cáo trình bày bản án sơ thẩm quá nghiêm khắc xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo P xin được giảm nhẹ và hưởng án treo; Hội đồng xét xử xét thấy:

Xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa bị cáo Võ Thị Bảo Tr và bị hại Nguyễn Kim V trong lúc đánh bài vào ngày 10/4/2020. Khoảng 15 giờ ngày 11/4/2020, Huỳnh Cẩm V thấy V đến chơi bài nên điện thoại cho Tr biết V đã đến đồng thời mô tả đặc điểm của V cho Tr biết là V mặc áo thun màu xanh. Sau khi nhận được thông báo của V, Tr kêu T điện thoại cho L kêu T về vì V đã đến nơi đánh bài. Khi đã chuẩn bị xong, Tr điều khiển xe chạy trước dẫn đường, T điều khiển xe mô tô chở L chạy phía sau. T điều khiển xe chở Thiện chạy kế tiếp xe T và Trí điều khiển xe chở Hiền. Khi cả nhóm đến hẻm vào dãy nhà trọ số 78/1 Khu phố 4, đường Lê Văn Phẩm, Phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nơi V chơi bài thì Tr đậu xe ở ngoài đầu hẻm, nhóm của T chạy vào trong hẻm tìm chém V. Khi thấy nhóm T chạy vào, V bỏ chạy, L rút súng ra bắn (theo L Ki là bắn chỉ thiên để uy hiếp tinh thần) nhưng do không sử dụng thành thạo nên làm rớt 03 viên đạn xuống đường. Lúc này T vừa hô to“Nó kìa chém chết nó” vừa chụp lấy con dao của L chém V, nhưng không trúng. Khi V chạy ngang Thiện và T, thì Thiện dùng dao chém trúng giữa lưng V, V chạy một đoạn khoảng 5m thì té ngã xuống đường, lúc này Hiền chạy tới dùng dao chém 01 nhát vào chân pH của V, T chạy đến chém vào vùng vai, đầu và lưng của V. V được người dân đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong.

Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 120/2020/TTh ngày 11/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Kim V do mất máu cấp, đứt rời cột sống ngực 12 và thắt lưng 1, đứt rời tủy sống đoạn ngực 12 và thắt lưng 1. Xuất huyết dưới nhện.

Xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng người khác đều bị xử lý nghiêm khắc. Nhận thức được điều đó nhưng các bị cáo vẫn thống nhất chuẩn bị hung khí như súng, dao tự chế tìm chém V trả thù cho Bảo Tr. Các bị cáo thực hiện hành vi với quyết tâm rất cao, trong khi đó mâu thuẫn giữa V và Tr chỉ là nhỏ nhặt, đã được can ngăn. Khi V bị chém 01 nhát ngã gục, tiếp đến đồng bọn gồm Hiền và T chạy đến chém vào người V. Với 1 loạt nhát chém như nêu trên cho thấy các bị cáo quyết tâm thực hiện đến cùng hành vi nhằm tước đoạt sinh mạng của bị hại. Hành vi của các bị cáo là rất hung hăng tàn bạo, mất đi tính người. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo là người đã thành niên có đủ khả năng để nhận thức được rằng dao tự chế là hung khí nguy hiểm khi chém vào cơ thể người khác sẽ nguy hiểm đến tính mạng con người mà cụ thể trong vụ án này dẫn đến cái chết của anh V. Qua đó cho thấy rằng đối với các bị cáo không chỉ nhận thức được như trên, các bị cáo thực hiện hành vi với quyết tâm giết chết bằng được V. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, các bị cáo Nguyễn Phúc T, Võ Thị Bảo Tr, Trần Tiến T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh H, Võ Anh T, Nguyễn Minh Tr và Huỳnh Cẩm V đã phạm tội “Giết người” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Vĩnh H, Văn Bá Bảo Knh, Trần Văn V, Nguyễn Thanh P mặc dù biết 03 con dao và khẩu súng T, L đem về để tại nhà Dương Văn L là hung khí trong vụ án giết người nhưng không tố giác, mà lại có hành vi tích cực đem cất giấu nhiều nơi, nhiều lần nhằm che giấu hành vi phạm tội của T cùng đồng phạm, gây khó khăn cho hoạt động điều tra nên phạm tội “Che giấu tội phạm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự.

Cấp sơ thẩm xác định: Trong vụ án Nguyễn Phúc T với vai trò chủ mưu cầm đầu, để trả thù cho Tr, bị cáo đã tập hợp lực lượng, chuẩn bị hung khí và trực tiếp chém nhiều nhát vào người của bị hại; Nguyễn Thanh L giúp sức rất tích cực, chuẩn bị hung khí, trực tiếp thực hiện hành vi như bắn, chém bị hại V. Do đó, các bị cáo trên pH chịu hình phạt nặng hơn các bị cáo khác.Việc nhận định như nội dung trên là có cơ sở.

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh P mặc dù biết các đối tượng đã gây án nhưng có vai trò tích cực trong việc che dấu và tẩu tán hung khí cho các đối tượng nói trên. Vì vậy, bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi và hậu quả mà mình đã gây ra. Nhận định của cấp sơ thẩm là phù hợp các quy định của pháp luật.

Xét về vai trò, tính chất về hành vi của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

*Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, có tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51và Khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo P được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản1 Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự do đại diện gia đình bị hại tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự:

Bị cáo Nguyễn Phúc T và Nguyễn Thanh L có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáoT, L, P thành khẩn Ki báo và có thái độ ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường, gia đình bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, gia đình các bị cáo có công với nước.

Bản án sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thanh P. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét thấy, mức hình phạt cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

Các bị cáo Nguyễn Phúc T và Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thanh P, Võ Anh T pH chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Căn cứ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348, Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Võ Anh T.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc T, bị cáo Nguyễn Thanh L và bị cáo Nguyễn Thanh P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2022/HS - ST ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Tòa án tỉnh Tiền Giang:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phúc T, Võ Thị Bảo Tr, Trần Tiến T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh H, Võ Anh T, Nguyễn Minh Tr và Huỳnh Cẩm V phạm tội “Giết người”.

-Áp dụng Điểm n Khoản 1 Điều 123, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Phúc T mức án Chung thân.

Tổng hợp hình phạt bản án số 80/2021/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang với mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Phúc T chịu hình phạt chung là chung thân.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2020.

-Áp dụng Điểm n Khoản 1 Điều 123, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thanh L 20 (hai mươi) năm tù.

Tổng hợp hình phạt bản án số 80/2021/HSST ngày 15/11/2021 ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang mức án 02 (hai) năm tù. Bị cáo L chịu hình phạt chung là 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2020.

-Áp dụng Điểm n Khoản 1 Điều 123, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Võ Anh T 16 (mười sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2020.

2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Vĩnh H, Văn Bá Bảo Knh, Trần Văn V và Nguyễn Thanh P phạm vào tội “Che giấu tội phạm”.

-Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 389, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án

Án phí hình sự phúc thẩm: Mỗi bị cáo Nguyễn Phúc T, Nguyễn Thanh L, Võ Anh T, Nguyễn Thanh P pH nộp 200.000đ.

Các quyết khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ