- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 - Võ Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TP HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 711/2026/DS – ST Ngày: 22 – 4 – 2026 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Kim Ngoan
2. Bà Trần Thị Thu Hoài
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hoàng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1417/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1866/2026/QĐXXST - DS ngày 26 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1
Địa chỉ: số B - B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1973
Địa chỉ thường trú: 80/17 Đường H, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: số B - B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1979
Địa chỉ: Căn hộ C Lô B, Chung cư M, Đường A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 có ông Nguyễn Minh T trình bày:
Ngày 30/03/2016, ông Võ Văn H có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 84.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ: MC Contactless Cre G, Số thẻ: 526830-0843, Hạn mức: 84.000.000 đồng, Ngày cấp thẻ: 07/04/2016, Lãi suất áp dụng: 2.766%.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.633.935.610 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.614.758.879 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước.
- Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước.
- Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước.
- Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ.
- Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ.
- Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/01/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đồng thời khởi kiện khách hàng.
Tính đến ngày 22/4/2026, ông H còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc là 88.674.268 đồng; Lãi quá hạn là 147.532.311 đồng; Tổng cộng: 236.206.579 đồng.
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 88.674.268 đồng với lãi suất quá hạn là 4.149%/ tháng (lãi trong hạn 2.766%*150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Võ Văn H phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/4/2026 là 236.206.579 đồng, trong đó, bao gồm: Dư nợ gốc là 88.674.268 đồng; Lãi quá hạn là 147.532.311 đồng.
Ngoài ra, ông Võ Văn H còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/4/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đây là khoản vay tiêu dùng cá nhân của ông H, do đó Ngân hàng chỉ yêu cầu ông H có nghĩa vụ trả khoản tiền vay trên, ngoài ra ngân hàng không yêu cầu người nào khác có nghĩa vụ liên đới trả nợ với ông H.
Bị đơn ông Võ Văn H đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc, Thông báo tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông H vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và vắng mặt tại các phiên toà xét xử không có lý do.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 là ông Nguyễn Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Võ Văn H đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông H vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện việc cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và tiến hành giải quyết vụ án đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, về án phí bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng yêu cầu ông Võ Văn H phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay (gồm tiền gốc và tiền lãi quá hạn) mà ông H đã vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 30/03/2016 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/3/2016 có ghi địa chỉ nơi ở hiện tại của ông Võ Văn H là Căn hộ 3.13 Lô B, Chung cư M, Đường A, phường H, quận T (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh; Theo Sổ tạm trú số 310021355 ngày 20/5/2015 do Ngân hàng cung cấp thì ông Võ Văn H có nơi tạm trú tại địa chỉ Căn hộ C Lô B, Chung cư M, Đường A, phường H, quận T (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh; Theo kết quả trả lời xác minh của công an phường H, Thành phố Hồ Chí Minh thì tại Căn hộ 3.13 Lô B, Chung cư M, Đường A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh không có ông Võ Văn H cư ngụ và không có đăng ký thường trú, tạm trú. Theo kết quả trả lời xác của Công an xã C, tỉnh Hà Tĩnh thì ông Võ Văn H có đăng ký thường trú ở thôn B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh (trước đây là thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay, ông H không có mặt tại địa phương nơi cư trú. Thời điểm ông H đi khỏi địa phương vào khoảng năm 2002, khi đi không khai báo địa chỉ nơi cư trú mới.
Hiện nay, Ngân hàng không biết ông H đang ở đâu, ông H không thông báo cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025) về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn kiện lại vụ án thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Võ Văn H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025), Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ Văn H theo quy định pháp luật.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với hợp đồng tín dụng và nghĩa vụ trả nợ:
Theo nội dung Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 30/3/20216 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng MC Contactless Cre Gold, Số thẻ: 526830-0843 với hạn mức sử dụng là 84.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 2.766%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn cho ông H với mục đích tiêu dùng cá nhân. Việc hai bên thỏa thuận mức lãi suất nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.614.758.879 đồng.
Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/01/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Kể từ đó đến nay, ông H không thanh toán số tiền nợ nêu trên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông H nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án.
Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Văn H phải trả toàn bộ số tiền nợ đối với Thẻ MC Contactless Cre G, S thẻ: 526830-0843 tính đến ngày 22/4/2026 là 236.206.579 đồng, trong đó, bao gồm: nợ gốc là 88.674.268 đồng; nợ lãi quá hạn là 147.532.311 đồng và ông H còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/4/2026 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
. Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với các nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là (236.206.579 đồng x 5%) = 11.810.329 đồng (Mười một triệu tám trăm mười nghìn ba trăm hai mươi chín đồng), nguyên đơn không phải chịu án phí do đó trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ Điều 40, Điều 277, Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 4, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.
Buộc ông Võ Văn H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền tính đến ngày 22/4/2026 là 236.206.579 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu hai trăm lẻ sáu nghìn năm trăm bảy mươi chín đồng), trong đó, bao gồm: nợ gốc là 88.674.268 đồng; nợ lãi quá hạn là 147.532.311 đồng. Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 23/4/2026, ông Võ Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/3/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 thì lãi suất mà ông H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Văn H phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 11.810.329 đồng (Mười một triệu tám trăm mười nghìn ba trăm hai mươi chín đồng)
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền 4.553.092 đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi ba nghìn không trăm chín mươi hai đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án, phí lệ phí Tòa án số 0072024 ngày 13/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H).
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
4. Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND khu vực 2 - TPHCM; - THADS TPHCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Thu Hiền |