- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 711/2018/HS-PT Ngày: 24/12/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Ba
Bà Phạm Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 297/2018/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Đoàn Văn T và đồng phạm (2 bị cáo) do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc D với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2018/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1984, tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn 06/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Kim E (đã chết); có chồng là Lê Văn P và 01 con sinh năm 2016; hiện tại ngoại. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn T, Nguyễn Ngọc D là người nghiện ma túy đá. Để có ma túy sử dụng và bán lại cho những người nghiện ma túy kiếm lời, ngày 15/7/2017 T điều khiển xe mô tô của T biển kiểm soát 48G1 - 013.07 chở Nguyễn Ngọc D lên thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhờ người tên “Út” và “Ky” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) mua 45.000.000 đồng ma túy đá (tiền mua ma túy là của D). Sau khi mua được ma túy, T và D mang về phòng trọ của T ở tổ 4, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông cân được 48 gam, rồi chia thành hai phần, D lấy một nữa còn một nữa để lại cho T bán. Sau khi bán hết số ma túy trên, T vào nhà D lấy số ma túy còn lại đem về sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện.
Khoảng 10 giờ ngày 31/8/2017, Lê Hải Phú Nguyên rủ Từ Quốc Cường mua ma túy về sử dụng thì Cường đồng ý, sau đó Nguyên gọi điện thoại cho T hỏi mua ma tuý, T hẹn Nguyên tại khu vực cây xăng Nguyên Vũ thuộc tổ 6, phường Nghĩa Phú, thị xã Gia Nghĩa, khi gặp T, Nguyên đưa cho T 300.000 đồng, T đưa cho Nguyên 01 gói ma túy, thì lực lượng Công an phòng chống ma túy Công an tỉnh Đắk Nông bắt quả tang cùng tang vật và thu giữ trên người T thêm 01 gói ma túy.
Tiến hành bắt và khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 2.000.000 đồng, 02 cân tiểu ly, 01 bộ tẩu và 1000 ống thủy tinh sử dụng ma túy; 06 gói ni lon chứa tinh thể màu trắng T khai là ma túy đá; 02 cân tiểu ly, 06 vỏ nilon màu trắng, hình chữ nhật, 01 cái kéo; 01 bộ sử dụng ma túy đá; 1000 ống thủy tinh để sử dụng ma túy.
Tại cơ quan điều tra Đoàn Văn T khai nhận trước đó đã nhiều lần bán ma túy cho Lê Hải Phú Nguyên, Đinh Thái Phi, Nguyễn Ngọc Đoài, Nguyễn Tiến Đạt, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 12/8/2017 Đinh Thái Phi và Nguyễn Tiến Đạt mỗi người góp 150.000 đồng và đi đến khu vực căn tin Tỉnh đội thuộc phường Nghĩa Trung, thị xã Gia Nghĩa mua của T 01 gói ma túy 300.000 đồng rồi cả hai mang về nhà sử dụng.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 15/8/2017 Đinh Thái Phi đưa cho Nguyễn Tiến Đạt 100.000 đồng và Đạt bỏ ra 200.000 đồng rồi đi đến Căn tin khu vực Tỉnh đội mua của T 01 gói ma túy 300.000 đồng rồi cả hai mang về nhà sử dụng.
Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 22/8/2017 Lê Hải Phú Nguyên hỏi T mua 300.000 đồng ma túy, T hẹn giao ma túy tại khu vực cây xăng Nguyên Vũ thuộc tổ 6, phường Nghĩa Phú, thị xã Gia Nghĩa, gặp nhau Nguyên đưa cho T 300.000 đồng, T đưa cho Nguyên 01 gói ma túy, Nguyên mang về nhà sử dụng.
Lần thứ tư: Khoảng 14 giờ ngày 24/8/2017 Lê Hải Phú Nguyên mua của T 01 gói ma túy 300.000 đồng tại cây xăng Nguyên Vũ, sau đó Nguyên mang về sử dụng.
Lần thứ năm: Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2017 Nguyễn Ngọc Đoài hỏi T mua ma túy, T hẹn Đoài giao ma túy tại khu vực khu công nghiệp xã Đắk Ha, huyện Đắk G’long, Đoài đưa cho T 500.000 đồng, T đưa cho Đoài 01 gói ma túy rồi mang về sử dụng.
Lần thứ sáu: Khoảng 16 giờ ngày 30/8/2017 Lê Hải Phú Nguyên rủ Nguyễn Tiến Đạt đi mua ma túy, T hẹn Nguyên và Đạt giao ma túy tại khu vực tiệm sắt thép Văn Tứ thuộc tổ 6, phường Nghĩa Phú, thị xã Gia Nghĩa, gặp nhau Nguyên đưa cho T 300.000 đồng, T đưa cho Nguyên 01 gói ma túy rồi Nguyên mang về sử dụng.
Ngoài ra, T còn khai nhận đã bán cho nhiều người khác gồm: Phạm Thị Kim Ty, Lê Văn Tiến nhưng không nhớ thời gian và số tiền cụ thể, hiện nay những người này không có mặt tại địa phương nơi cư trú.
Tại kết luận giám định số 60/PC54 ngày 05/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất màu trắng trong 08 gói nilon được niêm phong có trọng lượng và loại như sau:
- 01 gói thu giữ khi bắt quả tang trên người T (M1), là ma túy Methamphetamine, trọng lượng 0,1067 gam.
- 01 gói thu giữ khi bắt quả tang trên người Nguyên (M2), là ma túy Methamphetamine, trọng lượng 0,1161 gam.
- 06 gói thu giữ khi khám xét (M3), là ma túy Methamphetamine, trọng lượng 13,1009 gam.
Tổng trọng lượng ma túy Methamphetamine đã thu giữ là 13,3237 gam khi giám định hoàn lại 9,4736 gam.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HSST ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Đoàn Văn T, Nguyễn Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Đoàn Văn T, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/5/2018, bị cáo Nguyễn Ngọc Diễm có đơn kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/12/2018 bị cáo Nguyễn Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, ngoài ra bị cáo D còn nhờ người thân là bà Nguyễn Thị Kim Dung làm đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do hiện tinh thần không được minh mẫn sáng suốt nhưng không đưa ra được các tài liệu để chứng minh cho yêu cầu hoãn phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày ý kiến: Toà cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc D, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo kêu oan của bị cáo D và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HSST ngày 19/4/018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên Tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2 không có lý do, dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Ngọc D bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo kháng cáo kêu oan.
Nhận định của Hội đồng xét xử: Hành vi của bị cáo thể hiện ngày 15/7/2017 T điều khiển xe mô tô của T biển kiểm soát 48G1-013.07 chở Nguyễn Ngọc D lên thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhờ người tên “Út” và “Ky” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) mua 45.000.000 đồng ma túy đá (tiền mua ma túy là của D). Sau khi mua được ma túy, T và D mang về phòng trọ của T ở tổ 4, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa cân được 48 gam, rồi chia thành hai phần, D lấy một nữa còn một nữa để lại cho T bán. Sau khi bán hết số ma túy trên, T vào nhà D lấy số ma túy còn lại đem về sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện. Hành vi của bị cáo D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Bị cáo cho rằng bản thân mình không mua bán ma túy, trong vụ án này bị cáo bị oan.
Xét thấy, bị cáo D tuy không trực tiếp mua bán ma túy cho các đối tượng nghiện nhưng bị cáo D đã có hành vi dùng số tiền 45.000.000 đồng của mình và cùng với bị cáo T mua ma túy về chia nhỏ ra để bị cáo T bán cho các đối tượng nghiện. Do đó cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không oan cho bị cáo nên cấp phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo kêu oan của bị cáo.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác, vì vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên khi lượng hình cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo khi lượng hình. Đối với bị cáo D đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, có cha mẹ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 146 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HSST ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Ngọc D;
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HSST ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; các điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSND cấp cao tại TP.HCM;(1) - TAND tỉnh Đắk Nông; (2) - VKSND tỉnh Đắk Nông;(1) - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; (1) - Công an tỉnh Đắk Nông; (1) - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; (1) - Bị cáo Nguyễn Ngọc D; (1) - Lưu. (4) CÁC THẨM PHÁN Phạm Thị Duyên Nguyễn Hữu Ba | Phan Văn Yên THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |