vanban.org

Bản án 71 — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 440 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ¸n nh©n d©n
HuyÖn giång riÒng
TØnh kiªn giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 71/2021/DS-ST
Ngµy: 26-10-2021

“V/v Tranh chÊp hợp đồng

mua bán tài sản ”

nh©n danh

n íc céng hÒa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

TÒA ¸n nh©n d©n huyÖn giång riÒng, tØnh kiªn giang

- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn tßa: Bà Nguyễn Thúy An

Các Héi thÈm nh©n d©n:

Ông Huỳnh Hoàng Nam

Ông Trịnh Hoàng Giang

- Th ký phiªn toµ: Ông Phan Đình Nguyên - Lµ th ký Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Giång RiÒng, tØnh Kiªn Giang.

- §¹i diÖn viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Giång RiÒng, tỉnh Kiên Giang: Bà Trần Thúy An - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 307/2020/TLST-DS ngµy 09 th¸ng 11 n¨m 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2021/QĐXXST- DS ngày 21 tháng 9 năm 2021. Giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Hộ kinh doanh L1 L2

-Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Tấn L1, sinh năm 1965 (Có mặt).

-Bị đơn: Ông Trần Quốc Ng, sinh năm 1975 (Có mặt)

Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975 (Có mặt)

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Mỹ L2, sinh năm 1969 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Hòa B, xã Hòa L3, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Néi dung vô ¸n:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, người đại diện cho nguyên đơn - Ông Đỗ Tấn L1 trình bày:

Vào vụ lúa Hè thu năm 2019, ngày 07/02/2019 âm lịch (Viết tắt là ÂL) vợ chồng ông Trần Quốc Ng và bà Nguyễn Thị C có đến cửa hàng của ông mua vật tư nông nghiệp số tiền 10.654.000 đồng. Sau khi thu hoạch lúa, vợ chồng ông Ng không thanh toán với lý do chưa có tiền do thất mùa. Cửa hàng ông tiếp tục bán vật tư nông nghiệp cho vợ chồng ông Ng thêm 03 vụ lúa tiếp theo là Vụ 3 năm 2019, vụ Đông xuân năm 2020 và vụ Hè thu năm 2020, đối với số tiền mua vật tư các vụ này thì vợ chồng ông Ng đã thanh toán đầy đủ, số tiền vợ chồng ông Ng còn thiếu trong vụ Hè thu năm 2019 được ghi vào sổ theo dõi của cửa hàng. Ông Đỗ Tấn L1 yêu cầu vợ chồng ông Ng - bà C trả số tiền 10.654.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 15/6/2019 (Âl) cho đến ngày xét xử theo mức lãi suất quy định của pháp luật.

Bị đơn - ông Trần Quốc Ng, bà Nguyễn Thị C trình bày:

Ông Ng và bà C thừa nhận vào ngày 07/02/2019 âm lịch (Âl), vụ Hè thu 2019 có mua vật tư nông nghiệp tại cửa hàng ông L1 L2, với số tiền 10.654.000 đồng. Khi đến cuối vụ, ông bà đến cửa hàng trực tiếp trả cho bà L2 số tiền 8.854.000 đồng, còn nợ lại 1.800.000 đồng. Sau đó, tiếp tục mua phân thuốc bảo vệ thực vật Vụ 3 năm 2019, vụ Đông xuân năm 2020, vụ Hè Thu 2020, các vụ này đã trả đủ tiền và trả luôn tiền nợ còn lại của vụ Hè thu năm 2019 là 1.800.000 đồng. Do bà L2 không gạc sổ theo dõi tại cửa hàng nên cho rằng ông bà còn thiếu tiền vụ Hè thu năm 2019 số tiền 10.654.000 đồng, ông bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L1 – bà L2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Bà Võ Thị Mỹ L2 trình bày:

Bà L2 thống nhất theo lời trình bày của ông L1, bà L2 là người trực tiếp giao dịch mua bán và ghi sổ với ông Ng - bà C, bà L2 xác định Vụ Hè thu năm 2019 bà C không có đến cửa hàng trả tiền mà thực tế bà có đến nhà lấy 02 lần với tổng số tiền 10.000.000 đồng. Bà L2 xác định có ghi nội dung kết toán nợ vụ Hè thu 2019 và Vụ 3 năm 2019 vào sổ theo dõi tại cửa hàng được đánh số 50 nhưng ông Ng - bà C không trả tiền 10.000.000 đồng trong vụ này mà được trả 04 lần cộng chung là 28.000.000 đồng trong các vụ sau, bà không xác định được thời gian của các lần trả. Theo thỏa thuận thì sau khi bán vật tư nông nghiệp đến 04 tháng thì phải trả tiền, nếu sau 04 tháng không trả thì sẽ tính lãi nên ông bà yêu cầu tính lãi của số tiền chậm trả từ ngày 15/6/2019 (Âl) cho đến ngày xét xử.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành đúng theo quy định của pháp luật, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đương sự trong vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng đúng pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, thời hạn đưa ra xét xử còn vi phạm cần rút kinh nghiệm. Về quan điểm giải quyết vụ án, qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng xét thấy nguyên đơn cho rằng căn cứ vào sổ theo dõi lưu tại cửa hàng và sổ phụ giao cho bị đơn để xác định ông Ng - bà C còn nợ số tiền mua vật tư nông nghiệp vụ Hè thu năm 2019 là 10.654.000 đồng. Ngoài ra không có văn bản kết toán nợ hay chứng cứ gì khác, theo sổ phụ phía bị đơn cung cấp cũng không thể hiện nội dung còn nợ số tiền 10.450.000 đồng của vụ lúa Hè thu năm 2019. Các vụ lúa tiếp theo thể hiện thanh toán phần nợ được cộng dần từ vụ 3 năm 2019 đến vụ Hè thu năm 2020. Bà L2 thừa nhận có nhận ông Ng - bà C có trả tiền 02 lần là 10.000.000 đồng nhưng cho rằng không phải nhận tiền trả của vụ Hè thu năm 2019, bị đơn phản đối ý kiến của bà L2. Theo chứng cứ bà L2 cung cấp có cơ sở xác định bà L2 có nhận trả 10.000.000 đồng trong năm 2019, ngoài ra không có chứng cứ gì chứng minh việc ông Ng - bà C nợ số tiền 10.654.000 đồng. Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị chấp nhận. Căn cứ Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cửa hàng vật tư nông nghiệp L1 L2, buộc ông Ng - bà C trả số tiền mua vật tư nông nghệp gốc còn thiếu lại là 654.000 đồng và tiền lãi từ ngày 15/6/2019 (Âl) cho đến ngày xét xử. Về án phí, các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NhËn ®Þnh cña tßa ¸n:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] VÒ thñ tôc tè tông: Hộ kinh doanh L1 L2 khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc Ng, bà Nguyễn Thị C phải trả trả mua vật tư nông nghiệp còn thiếu đây là tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 §iÒu 35, Điều 39 cña Bé luËt Tè tông d©n sù, Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Giång RiÒng, tỉnh Kiên Giang thô lý gi¶i quyÕt vô ¸n theo thñ tôc s¬ thÈm lµ ®óng trình tự, thñ tôc.

[2] VÒ néi dung:

[2.1] Xét hợp đồng dân sự mua bán tài sản:

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cùng xác định vào ngày 07/02/2019 âm lịch (Âl) tức là vụ Hè thu 2019, ông Trần Quốc Ng - bà Nguyễn Thị C có mua vật tư nông nghiệp tại cửa hàng ông L1 L2. Hai bên cùng xác định số tiền mua vật tư nông nghiệp vụ Hè Thu năm 2019 là 10.654.000 đồng. Các đương sự đều thừa nhận sự việc tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng mua bán tài sản. Theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự những tình tiết, sự kiện đã được “một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận chuyên môn của bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy có cơ sở xác định việc ông Ng - bà C có giao kết hợp đồng mua bán với Hộ kinh doanh cá thể L1 L2 vào vụ lúa Hè thu năm 2019 với số tiền mua vật tư là 10.654.000 đồng là sự thật.

Các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng L1 pháp luật hành vi dân sự, tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm đều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức giao dịch được thể hiện bằng lời nói, đối tượng của hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật. Do đó hợp đồng mua bán được xác lập hợp pháp theo quy định tại Điều 117 và Điều 119 và Điều 430 của Bộ luật Dân sự.

Quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên đã giao nhận đủ số vật tư nông nghiệp thỏa thuận sau 04 tháng là ngày đến hạn thanh toán. Hai bên không lập hợp đồng mua bán cụ thể, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, sau đó ghi vào sổ cái lưu giữ tại cửa hàng ông L1 và sao sổ phụ giao cho bên mua, khi nào thanh toán tiền xong thì sẽ tiến hành gạc sổ.

Ông L1 - bà L2 cho rằng ông Ng - bà C chưa thanh toán số tiền mua vật tư cho ông bà, căn cứ vào sổ cái ghi nợ được lưu giữ tại cửa hàng. Ngược lại ông Ng - bà C cho rằng ông bà đã thanh toán đủ tiền mua vật tư cho ông L1. Cụ thể, ông bà có trả dần 02 lần, mỗi lần 5.000.000 đồng do bà L2 trực tiếp đến nhà lấy. Đến tháng 10/2019 (âm lịch) ông bà có đến cửa hàng gặp bà L2 trả luôn số tiền mua vật tư của vụ 2 và vụ 3 năm 2019 còn lại là 17.174.000 đồng. Sau khi trả tiền thì ông bà xác định bà L2 có gạc sổ phụ giao ông bà, ngoài ra không làm giấy tờ gì khác. Trong phần sổ phụ bà L2 giao cho ông bà, sổ màu vàng số 66 có ghi câu: “Trả đủ phần này” nên ông bà xác định đã trả đủ tiền, không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L1 và bà L2.

Ông L1 và bà L2 phải có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà các bên đã giao nộp, tại tờ ghi nợ của cửa hàng vật tư nông nghiệp L1 L2, ghi số 50 tương ứng với sổ phụ ghi nợ màu vàng giao cho ông Ng - bà C ghi số 50, vụ 3 năm 2019. Tại sổ ghi nợ, bà L2 thể hiện số tiền mua vật tư thiếu của Vụ 3 năm 2019 là 16.520, bà L2 cho rằng thông lệ hay viết tắt lượt bớt các số không, tương ứng số tiền 16.520.000 đồng, phần cuối sổ ghi có đoạn kết toán: “ Cộng

Hè thu 2019

10.654

Vụ 3 2019

16.520

27.174

Trả 2 lân

10.000

Nơ

17.174

Như vậy có cơ sở xác định bà L2 đã kết toán nợ của Vụ Hè thu năm 2019 và Vụ 3 năm 2019, thể hiện ông Ng - bà C đã thanh toán 10.000.000 đồng trong năm 2019, ông Ng và bà C chỉ còn nợ lại số tiền 17.174.000 đồng.

Tuy nhiên đến vụ Đông Xuân năm 2020 (tức là vụ tiếp theo) trên sổ phụ của ông Ng - bà C do bà L2 trực tiếp ghi thì lại thể hiện nội dung tính tiền như sau:

V3 2019

16.520.000

DX 2019-20 10.716.000

27.236.000

Huội

8.500.000

Cộng

35.736.000

Trả

28.000.000

Nợ:

7.736.000

Lãi 5T

1.160.000

8.8960

Do đó phần nợ Vụ 3 năm 2019 đã được bà L2 tính thêm 01 lần nữa và được thanh toán chung trong vụ Đông xuân 2019-2020. Như các bên đương sự cùng thừa nhận phần nợ các vụ này đều thanh toán xong và không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Theo kết quả tranh tụng và đối chất, các đương sự thống nhất việc ông Ng và bà C có trả số tiền 02 lần là 10.000.000 đồng, thể hiện thời gian trả nợ do bà L2 ghi vào sổ cuối năm 2019. Ngoài ra không có chứng cứ gì chứng minh việc ông Ng

- bà C còn nợ số tiền 10.654.000 đồng.

Từ những phân tích trên có cơ sở xác định vụ Hè Thu năm 2019, ông Ng và bà C đã thanh toán được số tiền là 10.000.000 đồng, nợ lại số tiền là 654.000 đồng. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 440 của Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử buộc ông Ng và bà C phải thanh toán số tiền mua vật tư nông nghiệp cho cửa hàng vật tư nông nghiệp L1 L2 số tiền còn thiếu là 654.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu tính lãi của Cửa hàng vật tư nông nghiệp L1 L2:

Cửa hàng vật tư nông nghiệp L1 L2 yêu cầu tính lãi suất từ ngày 15/6/2019 (Âl) tức là ngày 17/7/2019 dương lịch cho đến khi kết ngày xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy ông Ng và bà C đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền do đó căn cứ khoản 3 Điều 440 của Bộ luật Dân sự chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi của Cửa hàng kinh doanh L1 L2 như sau: 654.000 đồng x 10%/01 năm x 02 năm 03 tháng 09 ngày = 152.000 đồng.

Tổng cộng gốc và lãi ông Ng và bà C phải trả cho hộ kinh doanh L1 L2 là 806.000 đồng.

Để bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án, kể từ ngày hộ kinh doanh L1 L2 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bà ông Ng - bà C không trả đủ tiền thì ông Ng - bà C còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] VÒ ¸n phÝ: ¸p dông kho¶n 1 ®iÒu 147 cña Bé luËt Tè tông d©n sù, kho¶n 1 §iÒu 26 cña NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n:

Hộ kinh doanh L1 L2 phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, cụ thể 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005637 ngày 06/11/2020 và biên lai số 0005541 ngày 15/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Hoàn trả lại cho Hộ kinh doanh L1 L2 số tiền án phí là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Ông Ng và bà C ph¶i nép ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm không gi¸ ng¹ch lµ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 §iÒu 35, Điều 39, kho¶n 1 ®iÒu 147, Điều 266, Điều 271, và Điều 273 cña Bé luËt Tè tông d©n sù;

Căn cứ vào Điều 117 và Điều 119 và Điều 430, khoản 1, 3 Điều 440, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ kho¶n 4 §iÒu 26 cña NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n:

Tuyên xử:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh cá thể L1 L2 đối với ông Trần Quốc Ng, bà Nguyễn Thị C.

Buộc ông Trần Quốc Ng, bà Nguyễn Thị C phải liên đới trả cho cho hộ kinh doanh L1 L2 số tiền gốc là 654.000 đồng và tiền lãi là 152.000 đồng.

Tổng cộng gốc và lãi ông Ng và bà C phải trả cho hộ kinh doanh L1 L2 là 806.000 đồng (Tám trăm lẽ sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày hộ kinh doanh L1 L2 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bà ông Ng - bà C không trả đủ tiền thì ông Ng - bà C còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Hộ kinh doanh L1 L2 phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, cụ thể 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005637 ngày 06/11/2020 và biên lai số 0005541 ngày 15/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Hoàn trả lại cho Hộ kinh doanh L1 L2 số tiền án phí là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Ông Ng và bà C ph¶i nép ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm không gi¸ ng¹ch lµ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

Báo cho ông Ng - bà C biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 26/10/2021. Ông L1 và bà L2 được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6, §iÒu 7, 7a, 7b vµ §iÒu 9 cña LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù.

Cỡ chữ