vanban.org

Bản án 71/2026/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Kim T được ly hôn với ông Phan Văn L.

Con chung: không có. Tài sản chung, nợ chung: bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "phan thi kim t - phan van l"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Kim T được ly hôn với ông Phan Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2026/HN-ST
Ngày: 18-6-2026
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Yến Nhi

Bà Lê Thị Nhường

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Trúc – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2026/TLST - HN ngày 14 tháng 4 năm 2026 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2026 và quyết định hoãn phiên toà số: 132/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Phan Thị Kim T, sinh năm 1982; địa chỉ: số a, ấp A, xã P, tỉnh V (vắng có đơn).

Bị đơn: ông Phan Văn L, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp b, xã P, tỉnh V (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2026 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị Kim T trình bày:

Bà và ông Phan Văn L kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh B. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó, do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Hiện hai bên không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.

Con chung, tài sản chung, nợ chung không có.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Phan Văn L vắng mặt không lý do, không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Kim T.

* Tại phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim T vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ông Phan Văn L vắng mặt không lý do.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

- Về thủ tục: sau khi nhận đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý, Tòa án đã tiến hành thủ tục thủ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng, đầy đủ các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án, không vi phạm về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia các phiên họp, hoà giải, không có mặt theo yêu cầu của Toà án, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim T, cụ thể:

+ Về hôn nhân: bà T được ly hôn với ông L.

+ Về con chung: không có.

+ Về tài sản chung, nợ chung: bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí: bà T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: bà Phan Thị Kim T vắng nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Ông Phan Văn L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: bà Phan Thị Kim T và ông Phan Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh B, nay là Uỷ ban nhân dân xã P, tỉnh V vào ngày 21/6/2016 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, bà T cho rằng sau khi kết hôn, do bất đồng quan điểm, đời sống vợ chồng không hoà hợp nên bà và ông L nảy sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Hiện hai bên không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn, yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông L không tham gia các phiên hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: ”1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình….2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác … và lý do chính đáng khác”.

Xét thấy, việc bà T và ông L sống ly thân, không quan tâm đến nhau, không có thiện chí hòa giải thể hiện cả hai đã không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ chung: bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà T phải nộp án phí hôn nhân là 300.000 đồng theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Kim T được ly hôn với ông Phan Văn L.

2. Con chung: không có.

3. Tài sản chung, nợ chung: bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Phan Thị Kim T phải nộp án phí hôn nhân là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006434 ngày 08/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Do đó, án phí sơ thẩm bà T đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ