vanban.org

Bản án 71/2025/HSPT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Đức Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Xử phạt: Bị cáo Dương Đức Q tù Chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/12/2022. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Dương Đức Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Đức Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HSPT
Ngày: 13/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Phước Hòa

Các thẩm phán:

Ông Trần Đức Kiên

Ông Lê Văn Thường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoàng, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số 222/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Dương Đức Q. Do có kháng cáo của bị cáo Dương Đức Q đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2025/QĐXXPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Dương Đức Q; tên gọi khác: Cu Ba; sinh ngày 14 tháng 8 năm 1994, tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: A V, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nơi ở hiện nay: K, M, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Dương Đức T, sinh năm: 1967 và bà: Lê Thị H, sinh năm: 1968; có vợ là: Võ Thị V1, sinh năm: 1999; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; nhân thân: năm 2012 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Lữ đoàn pháo binh 40 đóng tại tỉnh Gia Lai, năm 2014 ra quân về địa phương; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 29/12/2022, cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Phúc T1 - Luật sư, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ, địa chỉ: phòng F, chung cư S L, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi của Dương Đức Q: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/12/2022, Dương Đức Q nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0774427652 của 01 người theo Q khai có tên là T2 vào số điện thoại 0796798663 Q đang sử dụng nói chạy xe ô tô ra thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị chở hàng vào thành phố Đà Nẵng. Sau đó T2 gửi cho Q số điện thoại 0876870198 và nói khi ra đến Quảng Trị thì gọi cho số này để được hướng dẫn đến địa điểm nhận hàng. Khoảng 09 giờ 30 cùng ngày thì Q điều khiển xe ô tô tải loại 0,7 tấn mang biển kiểm soát 43C-299.63 từ thành phố Đà Nẵng ra thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Khi Q điều khiển xe ô tô đến gần trạm thu phí ở thành phố Đ thì gọi vào số 0876870198 và được hướng dẫn vào đường L, sau đó người gọi điện thoại tiếp tục hướng dẫn Q đi qua khỏi số nhà B L khoảng 200 đến 300 mét rồi rẽ vào 01 đường kiệt phía bên trái. Q chạy xe vào kiệt khoảng 30 mét thì có 02 đối tượng nam thanh niên không rõ lai lịch chờ sẵn và chuyển lên xe Quyết 01 thùng xốp bên trong cất giấu 02 gói ma túy, 01 bao tải màu xanh bên trong cất giấu 01 gói ma túy và 01 túi nilon chứa áo quần. Trên đường Q đi vào lại thành phố Đà Nẵng thì T2 điện thoại cho Q nói khi đến thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì giao thùng xốp cho khách hàng. Sau đó T2 gửi số điện thoại 0789024387 của Đặng Minh T3 để Q liên lạc. Hồi 14 giờ 40 phút ngày 28/12/2022, tại đầu K Đ, phường T, thành phố H, Dương Đức Q giao cho Đặng Minh T3 thùng xốp bên trong có cất giấu 02 gói ma túy rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô vào thành phố Đà Nẵng. Vào hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại trước số nhà D N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Miền T4 thuộc Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng kiểm tra xe ô tô do Q điều khiển phát hiện trong bao tải màu xanh có 01 túi nilon màu xanh in ký tự nước ngoài có kích thước (17x09x08)cm, bên ngoài được quấn băng keo trắng, bên trong chứa ma túy dạng tinh thể màu trắng.

Dương Đức Q khai nhận: Ngoài lần vận chuyển trên, trước đó Q đã nhiều lần vận chuyển hàng cho T2, lần cuối trước khi bị bắt là ngày 24/12/2022, T2 thuê Q lái xe ô tô tải trên ra thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị chở 01 thùng xốp vào thành phố H giao cho Đặng Minh T3, mỗi chuyến T2 trả cho Q 2.800.000 đồng đến 3.000.000₫ tiền công. Hình thức trả tiền là bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Q và vào tài khoản của Dương Đức T5 (em ruột Q).

Sau khi bị bắt giữ, Dương Đức Q khai nhận ma túy từ thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để vận chuyển vào thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng cho T2, nhà ở đường L, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; tuy nhiên trong quá trình điều tra, Q vẫn thừa nhận nhiều lần vận chuyển hàng cho T2 từ thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị vào giao hàng tại thành phố H và thành phố Đà Nẵng với diễn biến đã nêu trên, nhưng không thừa nhận biết trong hàng hóa có giấu ma túy.

2. Về hành vi của Đặng Minh T3: Đặng Minh T3 có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội với 01 đối tượng nữ tên là H1 và được H1 thuê vận chuyển ma túy cho H1 với giá 20.000.000đ/lần, phương thức liên lạc là sử dụng ứng dụng Telegram. T3 đã 02 lần được H1 thuê đi nhận ma túy và đều nhận từ Dương Đức Q. Lần 01 là ngày 24/12/2022, T3 sau khi nhận thùng hàng vận chuyển về cất giấu tại 01 địa điểm trên đường H thuộc phường T, thành phố H rồi báo cho H1 biết. Đến chiều cùng ngày, thì H1 điện thoại cho T3 biết đã nhận ma túy và nói T3 ra đầu kiệt 289 B, phường P, thành phố H, tại đây có 01 thanh niên không rõ lai lịch giao cho T3 20.000.000 đồng tiền công. Lần thứ 02 vào ngày 28/12/2022, Đặng Minh T3 sau khi nhận thùng xốp có chứa ma túy từ Dương Đức Q bỏ lên xe mô tô chuẩn bị vận chuyển đi thì bị Đ đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Miền T4 thuộc Cục phòng ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng phối hợp với các cơ quan chức năng bắt quả tang.

Sau khi bị bắt quả tang, T3 còn khai nhận ngày 18/12/2022 có mua ma túy của 01 đối tượng không rõ lai lịch để sử dụng nhưng không hết nên đưa về nhà cất giấu. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Minh T3 ở tổ H, phường T, thành phố H thu giữ 05 viên nén màu nâu nhạt, 01 gói tinh thể rắn màu trắng và 01 gói chứa chất lỏng, có in hình các loại hoa quả.

Vật chứng, đồ vật tạm giữ:

Tạm giữ của Đặng Minh T3:

- 02 túi nilon màu trắng có cùng kích thước (18x09x07)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ khi bắt quả tang.

- 05 viên nén màu nâu nhạt (có năm cạnh khác nhau, một mặt có hình nổi sọ người), 01 túi nilon trong suốt chứa chất tính thể rắn màu trắng và 01 túi nilon màu đen có in hình hoa quả và dòng chữ “GRAPE” bên trong chứa chất bột màu tím thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở.

- 01 thẻ ATM của Ngân hàng TMCP Đ1 (B1) mang tên Đặng Minh T3;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu ghi; số Imei: 0355769077898477 có gắn thẻ sim số 0789024387;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i mang biển kiểm soát 75F1-703.13, và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thị Thanh B;

- 01 chùm chìa khóa xe máy;

- 01 CMND và 01 giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Đặng Minh T3,

- 01 ví màu xanh;

- 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Hà Thị Ngọc V2;

Tạm giữ của Dương Đức Q:

- 01 túi nilon màu trắng có một hình ảnh mã vạch bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng;

- 01 thẻ ATM của Ngân hàng N1 (A) mang tên Dương Đức Q;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng; số Imei: 357260097480073 có gắn thẻ sim số 076798663;

- 01 xe ô tô tải màu xanh hiệu CHANGAN mang biển kiểm soát 43C-299.63;

- 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc và 01 giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô biển kiểm soát 43C-299.63 đều mang tên Ngô Trần Nguyên T6;

- 01 Giấy phép lái xe hạng C, 01 CCCD đều mang tên Dương Đức Q.

* Tại Kết luận giám định số 853/KL-KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận đối với các chất ma túy thu giữ từ Đặng Minh T3 như sau:

- Chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ khi bắt quả tang có tổng khối lượng là 1.996,25 gam là ma túy loại Ketamine.

Các chất thu giữ khi khám xét nơi ở gồm:

- 05 viên nén màu nâu nhạt có tổng khối lượng 2,56 gam là ma túy loại MDMA:

- Chất tinh thể màu trắng có khối lượng 1,81 gam là ma túy loại Ketamine;

- Mẫu chất bột màu tím nhạt có khối lượng 8,01 gam tìm thấy thành phần MDMA, Methamphetamine và N.

* Tại Kết luận giám định số 1359/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đ kết luận chất bột màu tím nhạt gửi giám định có hàm lượng MDMA là 1,2%; hàm lượng Methamphetamine là 0,1%. Nimetazepam dạng vết hàm lượng dưới giới hạn định lượng nên không xác định được hàm lượng.

Tại Kết luận giám định số 854/KL-KTHS ngày 01/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận đối với chất ma túy thu giữ từ Dương Đức Q có khối lượng 991,56 gam là ma túy loại Ketamine.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 43C-299.63: Quá trình điều tra xác định xe ô tô mang tên Ngô Trần Nguyên T6 là chị dâu của Dương Đức Q; gia đình Q làm nghề trồng và buôn bán cây cảnh, nên chị T6 dùng xe để chở cây cảnh cho gia đình. Ngoài ra, khi có người thuê chở hàng thì Q lấy xe đi chở để thu nhập thêm cho cá nhân. Việc Q sử dụng xe chở hàng gia đình biết, nhưng không biết Q vận chuyển trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe và các giấy tờ liên quan đến xe cho chị Ngô Trần Nguyên T6.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i là của bà Phạm Thị Thanh B, mẹ của Đặng Minh T3, việc T3 sử dụng xe để vận chuyển trái phép chất ma túy bà B không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại xe và các giấy tờ liên quan đến xe mô tô, 01 chùm chìa khóa xe máy và 01 giấy đăng ký xe mang tên Hà Thị Ngọc V2 cho bà B.

Cơ quan điều tra đã trả lại 01 Giấy phép lái xe, 01 CCCD, 01 thẻ ATM cho Dương Đức Q; 01 Giấy phép lái xe, 01 CMND, 01 thẻ ATM, 01 chiếc ví cho Đặng Minh T3.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, các điện thoại tạm giữ của Dương Đức Q và Đặng Minh T3 hiện tiếp tục tạm giữ để phục vụ truy tố, xét xử.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã quyết định:

“1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Đức Q phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Dương Đức Q tù Chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/12/2022”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/4/2025, bị cáo Dương Đức Q kháng cáo, cho rằng bản án sơ thẩm kết tội oan cho bị cáo, bỏ lọt tội phạm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Dương Đức Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng chỉ chở hàng cho T2, không rõ hàng hóa bên trong là ma túy

Luật sư Nguyễn Phúc T1: Bị cáo không thể biết hàng hóa vận chuyển là ma túy, bị cáo nhận vận chuyển hàng hóa và nhận tiền công là việc rất bình thường trong xã hội. Quá trình điều tra bị cáo Q đã khai ra đối tượng T2 là người thuê nhà nhưng cơ quan điều tra không làm rõ vai trò của T2 là sai lầm nghiêm trọng, bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, đề nghị HĐXX hủy bản án hình sự sơ thẩm.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng có ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án cấp sơ xét xử bị cáo Dương Đức Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là đúng người, bị cáo không bị oan như trình bày của bị cáo, luật sư Nguyễn Phúc T1. Mức hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, trình bày của bị cáo, luật sư.

[1] Theo bản án hình sự sơ thẩm và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/12/2022, Dương Đức Q điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 43C-299.63 từ thành phố Đà Nẵng ra thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nhận từ 02 nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch 01 thùng xốp và 01 bao tải và 01 bao nilon bên trong cất giấu 03 gói ma túy có tổng khối lượng 2.987,81 gam loại Ketamnie để vận chuyển vào thành phố H và thành phố Đà Nẵng cho 01 đối tượng tên T2. Hồi 14 giờ 40 phút ngày 28/12/2022, tại đầu kiệt C Đ, phường T, thành phố H, Dương Đức Q giao cho Đặng Minh T3 01 thùng xốp bên trong có cất giấu 02 gói ma túy có tổng khối lượng 1.996,25 gam loại Ketamine rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô vào thành phố Đà Nẵng. Vào hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại trước số nhà D N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Dương Đức Q bị bắt, thu giữ trên xe ô tô 01 gói ma túy có khối lượng 991,56 gam loại Ketamine.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng chỉ là người vận chuyển thuê không biết có ma túy trong thùng xốp, bao tải.

Thấy:

Bị cáo bị bắt quả tang vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2022.

Tại “Biên bản ghi lời khai” hồi 06 giờ ngày 29/12/2022 (thời điểm bị bắt quả tang), bị cáo Q khai: “Lý do tôi có mặt làm việc với cơ quan Biên phòng ngày hôm nay vì lý do vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 28 tháng 12 năm 2022 khi tôi đang vận chuyển trái phép chất ma túy đến cuối chân đèo H thì bị lực lượng biên phòng kiểm tra....Khoảng ngày 10 hoặc ngày 11 tháng 11 năm 2022, T2 có thuê tôi chở đồ, T2 điện thoại cho tôi nói nội dung “đang mô đó, xe chạy không”, tôi trả lời “có chạy”, T2 nói “Rứa em chạy ra Quảng Trị bốc hàng cho anh”, T2 nói “trong đó có đồ đi cẩn thận cho anh” (tôi hiểu đồ là ma túy), anh T2 có nói với tôi “đồ” tôi vận chuyển là ma túy...Tôi biết việc vận chuyển trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền nuôi vợ con nên tôi vẫn làm” (bl 219)

Theo “Biên bản ghi lời khai” ngày 30/12/2022, bị cáo tiếp tục thừa nhận “Tôi nhận thức việc làm của mình tham gia vận chuyển hàng thuê bên trong có chứa chất ma túy là hành vi sai trái, tôi mong cơ quan chức năng tạo điều kiện sửa chữa sai lầm của mình” (bl 223)

Tại Kết luận giám định số 854/KL-KTHS ngày 01/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh T (cũ), kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ từ Dương Đức Q có khối lượng 991,56 gam là ma túy loại Ketamine.

Như vậy, đến ngày 01/01/2023 mới có kết luận giám định số tinh thể màu trắng mà bị cáo vận chuyển là ma túy, việc bị cáo cho rằng không biết hàng bên trong là gì nhưng lại có thể ngay từ ngày 28/01/2022 đã có thể khai nhận số tinh thể màu trắng đó là ma túy.

Tại “Biên bản hỏi cung bị can” ngày 23/11/2023, bị cáo thừa nhận “Quá trình làm việc bị can không bị bức cung, nhục hình, tự nguyện khai báo với cơ quan điều tra” (bl 213)

Quá trình điều tra tại Đồn biên phòng H3 và Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.

[3] Xét hình phạt: Bị cáo có hành vi vận chuyển trái phép 2.987,81 gam ma túy Ketamnie, đây là số lượng ma túy đặc biệt lớn, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của bị cáo cũng như bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có thời gian tham gia quân đội để từ đó xử phạt bị cáo mức hình phạt tù chung thân là có căn cứ.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Dương Đức Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Đức Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 250; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

1. Xử phạt: Bị cáo Dương Đức Q tù Chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/12/2022.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Dương Đức Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngay tuyên án.

Cỡ chữ