- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2025/HS-PT Ngày 19-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang
Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 52/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Lê Đức H do có kháng cáo của bị cáo Lê Đức H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Đức H, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1964 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố H,, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc A và bà Vũ Thị M; có vợ là Lê Thị L và 02 con; tiền án: Bản án số 11HS/ST ngày 18/11/1997, Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (chưa xóa án tích do chưa bồi thường phần dân sự); tiền sự: Ngày 16/10/2024, Công an huyện Cát Hải ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11/12/2024; có mặt.
- Bị hại không có kháng cáo: Anh Lưu Đức C, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố Tiến Lộc, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 18/11/2024, Lê Đức H đi qua khu vực nhà anh Lưu Đức Cảnh ở tổ dân phố T, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng thấy anh Hùng đỗ xe ô tô ở đường hẹp chắn lối đi nên giữa Hùng và anh Cảnh xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại. Hùng đi về nhà, nhưng vẫn bực tức vì Cảnh có lời nói không tôn trọng, nên Hùng cầm theo 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 38cm, giấu trong cạp quần đến nhà anh Cảnh tìm nói chuyện. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi Hùng thấy anh Cảnh và vợ là chị Đoàn Thị Như Quỳnh đi về nhà thì Hùng tiếp tục cãi, chửi nhau với vợ chồng anh Cảnh, Hùng cầm dao chạy vào trong nhà anh Cảnh đuổi chém chị Quỳnh một nhát nhưng không trúng. Anh Cảnh hoảng sợ chạy trốn vào nhà vệ sinh tầng 1, khóa trái cửa bên trong; Hùng đứng trước cửa nhà vệ sinh tầng 1 dùng dao chém nhiều nhát vào phần cánh cửa nhưng không mở được cửa. Hùng đi ra khu vực bếp, bê 01 bếp từ đôi hiệu Kangaroo ném xuống đất, tiếp tục dùng dao chém nhiều nhát vào cánh cửa kính nhà vệ sinh tầng 1, dùng chân đạp vỡ phần kính khiến chân Hùng bị thương tích. Nhận được trình báo của người dân Công an thị trấn Cát Hải có mặt tại hiện trường lập biên bản vụ việc và đưa Hùng đi cấp cứu.
Ngày 19/11/2024, anh Lưu Đức Cảnh có đơn trình báo cơ quan Công an huyện Cát Hải về việc bị Lê Đức H có hành vi đập phá tài sản vào ngày 18/11/2024 gồm: 01 cánh cửa bằng nhôm kính, kích thước 0,68x1,93m và 01 bếp điện từ đôi, nhãn hiệu Kangaroo.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 con dao bằng kim loại dài 38 cm, cán bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi kim loại dài 27 cm, rộng 7,5 cm do Lê Đức H vứt tại hiện trường; 01 cánh cửa nhôm kính; 01 bếp điện từ đôi và 01 USB chứa các tập tin video trích xuất từ camera ghi lại toàn bộ nội dung vụ việc do anh Cảnh tự nguyện giao nộp phục vụ điều tra.
Kết luận giám định số 3612/KL-KTHS ngày 02/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 03 tập tin có tổng dung lượng 112MB được lưu trong USB nhãn hiệu Kingston 32GB đã qua sử dụng, ghi lại nội dung vụ việc Lê Đức H đập phá tài sản, không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa. Trích xuất 06 hình ảnh lập thành bản ảnh kèm theo Kết luận.
Bản Kết luận định giá số 16/KL-HĐĐG ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cát Hải kết luận: 01 bếp điện từ đôi hồng ngoại, nhãn hiệu Kangaroo KG499N, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, giá trị phần thiệt hại là 2.072.000 đồng; 01 cửa 01 cánh, khung bằng nhôm màu đen, kính màu trắng sữa, kích thước 1,75x0,52m, phần kính vỡ và khóa hỏng không sử dụng được, giá trị phần thiệt hại là 600.000 đồng. Tổng giá trị phần thiệt hại là: 2.672.000 đồng.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
Xử phạt bị cáo Lê Đức H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt hoặc tự nguyện đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27 tháng 3 năm 2025, bị cáo Lê Đức H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Đức H cung cấp cho Toà án cấp phúc thẩm Giấy xác nhận có nội dung thể hiện ông Đoàn Hồng Đông không còn yêu cầu bị cáo bồi thường theo Bản án số 11HS/ST ngày 18/11/1997 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải (Bản viết tay không có xác nhận chữ ký của Cơ quan có thẩm quyền); bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo do tuổi cao, mắc nhiều bệnh và gia đình bị cáo là gia đình cánh mạng.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc giải quyết kháng cáo: Bị cáo Lê Đức H kháng cáo trong thời hạn luật định, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lê Đức H. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1; khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nhưng bị cáo Lê Đức H là người cao tuổi nên miễn án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Ngày 14 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án, tại phiên tòa bị cáo Lê Đức H có mặt. Vì vậy, ngày 27 tháng 3 năm 2024, bị cáo Lê Đức H có đơn kháng cáo là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lê Đức H tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lê Đức H có hành vi sử dụng 01 con dao bằng kim loại chém nhiều nhát, dùng chân đạp nhiều lần làm hư hỏng phần kính, khóa của 01 cánh cửa nhôm kính; bê 01 bếp điện từ đôi hồng ngoại, nhãn hiệu Kangaroo KG499N, ném xuống đất làm hư hỏng phần mặt kính, là tài sản của anh Lưu Đức Cảnh vào ngày 18/11/2024, tại tổ dân phố Tiến Lộc, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 2.672.000 (Hai triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu (bản viết tay, không có xác nhận chữ ký của Cơ quan có thẩm quyền) có nội dung thể hiện ông Đoàn Hồng Đông (bị hại trong vụ án bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt năm 1997) không còn yêu cầu bị cáo bồi thường nhưng tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, ông Đoàn Hồng Đông chưa nhận được số tiền bồi thường dân sự 2.230.000đồng nên Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo chưa thi hành xong phần bồi thường theo quyết định của Bản án số 11HS/ST ngày 18/11/1997 và chưa được xoá án tích là có căn cứ. Vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo trình bày gia đình bị cáo là gia đình cách mạng nhưng bị cáo cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ thể hiện về nội dung này nên không có căn cứ để áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Đức H: Bị cáo Lê Đức H không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, mặc dù bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và thiệt hại bị cáo gây ra cho bị hại là 2.672.000 đồng nhưng bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích; cũng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống nhưng bị cáo đã sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn; trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đuổi, chém vợ chồng bị hại; bị cáo cũng chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại nên Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Lê Đức H. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” nên theo quy định của pháp luật thì bị cáo không được hưởng án treo. Vì vậy cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và có đề nghị miễn án phí nên miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Lê Đức H.
Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt hoặc tự nguyện đi chấp hành án.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Lê Đức H. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
2. Về án phí: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Lê Đức H.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - CQCSĐT - Công an Tp. Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Cát Hải; - VKSND huyện Cát Hải; - TAND huyện Cát Hải; - Sở Tư pháp – TP. Hải Phòng; - PV06; PC10 - Công an TP. Hải Phòng; - Trại Tạm giam - Công an TP. Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Thạch |