vanban.org

Bản án 71/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 04/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T3.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T3 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T cùng đồng phạm "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T3.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 119 Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HS-PT
Ngày 04-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Thuấn.

Ông Lê Quang Toại.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 84/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Quảng Ngãi).

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Anh T, sinh ngày 21/12/2005 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là tổ dân phố L, phường S, tỉnh Quảng Ngãi); nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T1 và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến ngày 07/11/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa

2. Nguyễn Quốc P, sinh ngày 13/01/2003 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là tổ dân phố L, phường S, tỉnh Quảng Ngãi); nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;.

Nhân thân: Ngày 14/11/2020, bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” số tiền 1.000.000đồng.

Ngày 22/10/2022 bị Công an xã P, thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tụ tập nhiều người nơi công cộng, gây mất trật tự công cộng” số tiền 750.000đồng

Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa

3. Nguyễn Minh T3, sinh ngày 05/7/2006 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là tổ dân phố T, phường S, tỉnh Quảng Ngãi); nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Nhất S (Chết) và bà Nguyễn Thị Bích O; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa theo yêu cầu cho các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P: Ông Phạm Ngọc M, Luật sư Công ty L1 – Chi nhánh tại Quảng Ngãi thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Thôn T, phường S, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11/02/2024, nhóm thanh niên có 25 người gồm: Nguyễn Anh T, Nguyễn Chánh T4, Huỳnh Tấn C, Đỗ Đặng Q, Nguyễn Quốc P, Lê Minh V, Nguyễn Minh T3, Phạm Thế A, Võ Anh N1, Trương Trọng V1 và Phạm Ngọc V2 cùng với Nguyễn Ngọc T5, Lê Minh B, Nguyễn Văn H, Mai Thanh P1, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Mạnh Q1, Nguyễn Quang D, Kinh Quang N2, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Thị Xuân N3, Phạm Quỳnh N4, Lê Ngọc Trâm A1, Đặng Nguyễn Phương V3 và Trần Thị Xuân M1 ngồi nhậu tại quán N6 thuộc tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ (N là tổ dân phố T, phường S, tỉnh Quảng Ngãi). Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, C thấy Võ Hồng P2 và Nguyễn Văn T7 (P2 là người trước đó có mâu thuẫn với C và N2) từ quán nhậu đi ra lấy xe, nên C nói với những ngồi cạnh: “Hai thằng này lúc trước đòi đánh tao”, thì T5 và B thống nhất, những người còn lại không nghe thấy và không nói gì. Lúc này, C tay phải cầm 01 cái ghế nhựa đang ngồi chạy đến vị trí của P2, T7 và ném ghế nhựa trúng vào người của P2, thì P2 và T7 bỏ chạy bộ, C tiếp tục lấy 01 xô đá nhựa gần đó ném về hướng P2 nhưng không trúng, rồi C đuổi theo P2 và T7. Thấy vậy, T, T3, Minh V, T4, N2, Q và P cùng C đuổi đánh P2, T7 (trong đó T cầm theo ghế nhựa để đuổi đánh), đuổi theo khoảng 15m thì nhóm của C quay lại quán, Nguyễn Văn K đứng trước quán chỉ vào nhóm hỏi lý do vì sao đuổi đánh P2, T7, thì nhóm của C tiếp tục đuổi đánh K nhưng K bỏ chạy bộ. Sau đó, cả nhóm quay lại phía trước quán đi trên 03 xe mô tô, Tín điều khiển xe mô tô BKS: 76H1 - 396.76 chở T3, A điều khiển xe mô tô BKS: 76H1 - 264.59 chở N2 ngồi giữa và T ngồi sau (T cầm theo 01 ghế nhựa màu đỏ) và Q điều khiển xe mô tô chở C ngồi giữa và Minh V ngồi sau. Quá trình đuổi đánh thì C hô to: “đánh nó, đánh nó", đến quán B2 (cách quán Năm Xị 230m) thì đuổi kịp K. Cả nhóm xông vào đánh K, T dùng ghế nhựa đánh thì T3 nói: “đánh nhầm người rồi" và có ông Võ Hoài P3 là chủ quán bánh bèo ra can ngăn nên cả nhóm dừng lại không đánh K nữa và chở K cùng quay về lại quán N6.

Lúc này trước quán N6, V2 đứng gần Trần Phan K1 là bạn ngồi cùng bàn P2 (người đang bị nhóm C đuổi đánh), tuy không có mâu thuẫn gì, nhưng khi V2 thấy những người trong nhóm C đuổi đánh nhóm của P2 quay về, thì V2 xông vào dùng tay đánh K1, Trọng V1 thấy V2 đánh K1 nên cũng xông vào dùng tay đánh K1. Thấy vậy, T cầm ghế nhựa đánh K1 trúng đầu và trán, P dùng ly thủy tinh ở quán ném vào người của K1 nhưng không trúng làm ly rơi xuống đất, T4 dùng tay phải đánh vào lưng của K1 03 cái rồi đi vào bên trong quán lấy 01 chiếc đũa gỗ đem ra xông vào định đâm K1 thì được Nguyễn Thùy Minh T8 có mặt ở quán C1. Trong lúc đánh K1 thì Trọng V1 hô to “đánh nó". Thấy K1 bị đánh nên Trần Văn H2 (chủ quán Năm X) cùng mẹ ruột là bà Nguyễn Thị T9 vào can ngăn và lúc này có người nói: “đánh nhầm người rồi” thì tất cả những người tham gia đánh K1 dừng lại, sau đó giải tán đi về. Khải được người dân chở đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định số 111/KLTTCT-TTPY ngày 04/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Phan K1 tại thời điểm giám định là 09% (chín phần trăm). Các tổn thương phù hợp vật tày có cạnh gây thương tích.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Quảng Ngãi).

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Minh T3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến ngày 07/11/2024.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc P 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T3 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án

Ngoài ra, còn tuyên về phần tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Tấn C, Nguyễn Chánh T4, Đỗ Đặng Q, Lê Minh V, Võ Anh N1, Phạm Thế A, Phạm Ngọc V2, Trương Trọng V1; phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19/3/2025, bị cáo Nguyễn Anh T kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Minh T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ; bị cáo Nguyễn Quốc P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo;

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Minh T3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh T3 cung cấp Thư cảm ơn và Giấy khen của Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam P - thành phố V về thành tích tích cực trong thực hiện cuộc vận động “Quỹ vì người nghèo” trên địa bàn phường. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, bị cáo là người chưa thành niên, phạm tội với vai trò thứ yếu. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T3, áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P không có tình tiết giảm nhẹ gì mới tại cấp phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên về phần hình phạt đối với các bị cáo T, P.

Luận cứ bào chữa của luật sư Phạm Ngọc M cho bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P: Các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình; bị cáo P đã có hành động nhặt được của rơi trả cho người mất. Bản án sơ thẩm xét xử mức hình phạt đối với các bị cáo phù hợp. Tuy nhiên, về điều kiện được hưởng án treo của các bị cáo là đầy đủ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của các bị cáo:

Tối ngày 11/02/2024, tại khu vực quán N6 thuộc tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ (N là tổ dân phố T, phường S, tỉnh Quảng Ngãi), các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Minh T3 và các bị cáo khác có hành vi đuổi đánh nhóm của Võ Hồng P2, Trần Phan K1, làm hư hỏng tài sản tại quán N6.

Các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo Nguyễn Minh T3 khi phạm tội là người chưa thành niên (17 tuổi 7 tháng 06 ngày) nhưng có năng lực chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo nhận thức được hành vi truy đuổi, đánh nhau trong thời gian dài ở khu vực công cộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống bình yên của người dân khu vực này, gây mất an ninh trật tự ở khu vực. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, hoạt động sinh hoạt bình thường của người dân, nguyên tắc an toàn nơi công cộng gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong người dân.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Minh T3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét về nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P mỗi bị cáo 02 năm 03 tháng tù, bị cáo Nguyễn Minh T3 01 năm 03 tháng tù là phù hợp.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P cung cấp tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, bị cáo P còn cung cấp giấy xác nhận nhặt được của rơi trả lại người mất, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho các bị cáo, ngoài ra bị cáo Nguyễn Anh T là người thực hành tích cực; bị cáo Nguyễn Quốc P 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và hành vi “Tụ tập nhiều người nơi công cộng, gây mất trật tự công cộng” không lấy đó làm bài học mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh T3, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo được tặng thưởng Giấy khen của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam P - Thành phố V trong phong trào thực hiện cuộc vận động Quỹ “Vì người nghèo”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo tại cấp phúc thẩm. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi phạm tội là người chưa thành niên, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T3 giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo; đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát được chấp nhận. Đề nghị của Luật sư bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P không được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh T và Nguyễn Quốc P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Minh T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T3. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Quảng Ngãi) về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh T3.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T3 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 04/8/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Minh T3 cho Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án;

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Quảng Ngãi) về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

2.1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến ngày 07/11/2024.

2.2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc P 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án

3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Quốc P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Minh T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ