vanban.org

Bản án 71/2025/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 16/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trần Quang V là ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ.

Xử phạt bị cáo Vũ Trần Quang V 04 (bốn) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2024. Về án phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trần Quang V là ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HS-PT
Ngày: 16/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

ông Trần Đức Kiên

Các thẩm phán:

ông Lê Văn Thường

ông Phùng Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 637/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Trần Quang V về tội “Giết người”.

Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Trần Quang V (tên gọi khác: Bi), sinh ngày 20/02/2007 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn 4, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Vũ Văn H, sinh năm 1983 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 10/5/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Trần Quang V có kháng cáo: ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ; địa chỉ: thôn 4, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; đều có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Trần Quang V: ông Nguyễn Đình C, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai; có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024, sau khi uống bia, Vũ Trần Quang V đến quán chân gà nướng thuộc tổ dân phố 6, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai (do chị Đào Thị H, sinh năm 1987, trú: huyện C, tỉnh Gia Lai làm chủ quán) để chơi với Nguyễn Công D là người làm tại quán. Tại đây, V gặp Ngô Bảo S, Rah Lan K và Trần Ngọc Anh T. Khi thấy V đến chơi, D rủ V đi giao chân gà cho khách, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, cả hai quay lại quán.

Vì có khúc mắc từ trước với T nên giữa V và T nói qua lại với nhau, rồi phát sinh mâu thuẫn, V nói “tao đánh mày nhá”. T nói lại “đây nè đánh đi”. V nói “mày thách tao hả” nhưng sau đó V không nói gì và ngồi sử dụng điện thoại.

T gọi điện cho Công an thị trấn C báo tin về việc tại quán sắp có đánh nhau. Sau đó, Công an thị trấn xuống, yêu cầu V và T giải tán, không được đánh nhau. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi Công an thị trấn đi về, V đứng dậy nói với D“Anh chở em lên nhà rông một đoạn” nhưng D nói “Anh đang bận bán chân gà, em nhờ thằng K thử”, nên V nói với K “Tý anh chở em lên nhà rông, lát nữa bạn em đón em về”, K đồng ý. Sau đó, K đi lấy xe máy và nói với V “V ơi, nhanh anh chở mày đi để anh còn về nhà do nhà anh xa”. Lúc này, V nhìn thấy T đang ngồi tại bàn, nhìn về phía mình và cười nên V bực tức nảy sinh ý định đánh T. V đi bộ vòng ra phía sau lưng T, dùng tay trái đánh 01 cái vào mặt, dùng tay phải đánh 01 cái vào vai của T. V tiếp tục dùng tay phải giữ cổ, đè đầu của T xuống, tay trái lấy cây kéo bằng kim loại, dài 23cm trên bàn gỗ trước mặt T đang ngồi, giơ lên cao, đâm 01 nhát vào lưng của T rồi rút kéo ra. Thấy vậy, D liền xông vào can ngăn và lấy kéo từ V, còn T đứng dậy đi bộ vào nhà. V tiếp tục nhờ K chở về nhà rông, sau đó V nhờ người đi đường chở ra ngã ba H, rồi đón xe lên thành phố P. T được mọi người được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Nhi tỉnh Gia Lai, đến ngày 16/01/2024 thì ra viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 66/KLTTCT-TTPY ngày 19/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận thương tích đối với Trần Ngọc Anh T như sau:

“1. Các kết quả chính:

- 01 sẹo vết thương phần mềm nằm dọc sát bờ trong xương bả vai phải.

- 01 sẹo mổ dẫn lưu đường nách giữa bên phải khoảng gian sườn 5-6.

- Vết thương vùng lưng phải xuyên thấu khoang ngực gây tràn khí màng phổi phải, đã phẫu thuật dẫn lưu.

- Vết thương vùng lưng phải xuyên thấu khoang ngực gây tràn khí màng phổi phải, đã phẫu thuật để lại di chứng dày dính màng phổi phải.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Ngọc Anh T tại thời điểm giám định là 9% (chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.

- Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén, mũi nhọn. Do vậy, 01 (một) cây kéo được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên.

- Nếu không cấp cứu kịp thời có gây ảnh hưởng đến tính mạng hay không, không có cơ sở để trả lời.”

Ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 618/QĐ-CSHS, trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định trên kéo có máu người không, nếu có thì có phải máu của Trần Anh Ngọc T hay không. Tại Bản Kết luận giám định số 1105/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trên kéo không có máu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 30/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định: tuyên bố bị cáo Vũ Trần Quang V phạm tội “Giết người”.

Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Trần Quang V 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/11/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trần Quang V là ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo còn nhỏ tuổi, nhận thức chưa đầy đủ, suy nghĩ bồng bột mới dẫn đến việc phạm tội, hình phạt mà Toà sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nghiêm khắc, bị cáo đã bồi thường cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo Vũ Trần Quang V một phần hình phạt.

Người bào chữa của bị cáo Vũ Trần Quang V là Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Đình Cường thống nhất về hành vi và tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết đối với bị cáo; thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà. Bị cáo có nhân thân tốt; khi phạm tội là người chưa thành niên, phạm tội chưa đạt; sau phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại có một phần lỗi vì đã thách thức bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo V nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Ngày 01/11/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trần Quang V là ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, đơn kháng cáo của ông H, bà Đ trong thời hạn quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Văn H, bà Trần Thị Đ:

[2.1]. Bị cáo thừa nhận hành vi và tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội. Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Trần Quang V trong quá trình điều tra và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại quán chân gà nướng thuộc tổ dân phố 6, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai, vì có khúc mắc lời thách thức nhau từ trước nên khi thấy Trần Ngọc Anh T (14 tuổi 01 tháng 01 ngày) nhìn về phía mình và cười, Vũ Trần Quang V (16 tuổi 10 tháng 20 ngày) nghĩ rằng T cười đểu mình nên nảy sinh ý định đánh T. Bị cáo đi bộ vòng ra sau lưng T đang ngồi, dùng tay đánh 01 cái vào mặt và 01 cái vai của T. Sau đó, V dùng tay phải giữ cổ, đè đầu T xuống, tay trái lấy 01 cây kéo bằng kim loại, dài 23cm, có 02 mũi nhọn, giơ lên cao, đâm mạnh 01 nhát vào vùng lưng bên phải của T. Hậu quả, gây tổn thương cơ thể T với tỉ lệ 9%.

Bị cáo nhận thức được hành vi dùng kéo, có mũi nhọn đâm vào vùng lưng trên cơ thể bị hại là có thể gây chết người nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, việc bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời và nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Giữa bị cáo và bị hại chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn của bị cáo. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử bị cáo Vũ Trần Quang V về tội “Giết người” với tình tiết định khung “Giết người dưới 16 tuổi” và “Có tính chất côn đồ”, tội phạm được quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2]. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Chỉ vì nghĩ T nhìn đểu mình mà bị cáo đã dùng kéo làm bằng kim loại, có 02 mũi nhọn là loại hung khí nguy hiểm để đâm vào lưng là vùng trọng yếu của cơ thể bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo công tác cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[2.3]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng; bị hại không chết nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Vũ Trần Quang V mới 16 năm 06 tháng 20 ngày tuổi.

[2.4]. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội để áp dụng các điều luật quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi lượng hình đối với bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời cung cấp tài liệu thể hiện Ông, Bà đã nộp thay bị cáo khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm; chính quyền địa phương xác nhận bị cáo là công dân tốt nơi cư trú. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, cũng như tạo điều kiện để bị cáo sớm làm lại cuộc đời, trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3]. Án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trần Quang V là ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ không phải chịu.

[4]. Các phần quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trần Quang V là ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về hình phạt đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Trần Quang V 04 (bốn) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2024.

3. Về án phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án;

Ông Vũ Văn H và bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ