vanban.org

Bản án 71/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc H 01 (Một) năm 03 ( a) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/10/2024. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST
Ngày 23-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Phúc Tuyên.

2. Bà Trần Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 09/12/2024, đối với bị cáo:

HOÀNG QUỐC H, sinh ngày 29/11/2001, tại huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn Bản V, xã Kiên Đ, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con Hoàng Văn C, sinh năm 1970 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có;

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: Ngày 06/8/2023 bị Công an huyện Chiêm Hóa xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.250.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC), chưa nộp phạt;

- Nhân thân: Ngày 27/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng 27 ngày tù, về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 35/2019/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2020;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Bị hại: Anh Chu Đức TT, sinh năm 2009. Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Chu Thị N, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: Thôn Nà C xã Kiên Đ, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Anh TT, bà N đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan:

+ Ông Chu Văn Th, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn Nà C, xã Kiên Đ, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

+ Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Thôn Bản L, xã Đại S, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn. Tạm trú: Tổ 1., thị trấn Bằng L, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

+ Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Bằng L, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

+ Chị Lý Thị Kim L, sinh năm 2006. Người đại diện hợp pháp của chị L: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: Thôn Nà C, xã Tri P, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Chị L, bà Tiền đều vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại anh Chu Đức TT và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan ông Chu Văn Th: Ông Hoàng Văn V - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/5/2024, Chu Đức TT gặp Hoàng Quốc H tại quán bi-a thuộc th n ản V, xã Kiên Đ, huyện Chiêm H. Quá trình nói chuyện, TT, H rủ nhau cùng đi cầm cố chiếc điện thoại di dộng của TT để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó TT, H cùng đi đến xã ình Trung, huyện Chợ Đ, tỉnh ắc Kạn để cầm cố điện thoại tại một cửa hàng (kh ng xác định được địa chỉ) được số tiền 200.000 đồng và chia nhau chi tiêu cá nhân hết. TT và H thống nhất sau đó s góp tiền cùng nhau để chuộc lại điện thoại.

Khoảng 11 giờ ngày 08/5/2024, TT hỏi ông Chu Văn Th (là ông ngoại TT) “ông cho cháu mượn xe máy để đi chuộc điện thoại di động”, ông Th đồng ý và giao xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển số 22F1-, màu sơn xám-xanh-đen-bạc cho TT. TT điều khiển xe m t đi đến nhà H, mục đích rủ H đi chuộc lại điện thoại di động. Khi thấy TT đến, mặc dù không có tiền để cùng TT đi chuộc điện thoại nhưng thấy TT đang điều khiển xe mô tô biển số 22F1-3, nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của TT. H nói dối TT s góp tiền cùng TT đi sang xã ình T, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn để chuộc điện thoại. Khi đi H rủ Lý Thị Kim L (là bạn gái H, đang ở nhà H) cùng đi. Quá trình đi, H điều khiển xe mô tô biển số 22F1-3, chở L ngồi ở giữa, TT ngồi phía sau, đi đến đoạn đường gần thị trấn Bằng L, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn, H dừng xe và nói dối bảo TT và L xuống xe đợi để H đi lấy tiền chuộc điện thoại cho TT. Thực tế H kh ng đi lấy tiền mà điều khiển xe mô tô biển số 22F1-3 vào cửa hàng sửa chữa xe mô tô “Công Thương” gặp và bán xe mô tô cho cho chủ cửa hàng là anh Hoàng Văn D, trú tại thôn Bản L, xã Đại S, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn với giá 4.000.000 đồng (quá trình mua bán xe, H nói dối là xe của gia đình). Do anh D không có tiền mặt nên H bảo anh D chuyển số tiền 4.000.000đ vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB Bank), số tài khoản 03499 của Lý Thị Kim L (L đã đưa tài khoản ngân hàng cho H trực tiếp sử dụng từ tháng 12/2023). Sau khi nhận tiền xong, H tiếp tục đi đến cửa hàng bán xe máy cũ của anh Hoàng Văn T1, trú tại tổ A, thị trấn Bằng L, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn mua một xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đỏ (không nhớ biển số) với giá 1.800.000đ, kèm theo giấy tờ xe. Do không có tiền mặt nên H nhờ anh T1 cho mượn điện thoại để chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng thương mại Cổ phần Quân đội (MB Bank), số tài khoản 034900.. của Lý Thị Kim L đến tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), số tài khoản 39502.; của anh T1, sau đó H nhận tiền mặt để trả tiền mua xe và sử dụng chi tiêu cá nhân.

Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đỏ đi đến vị trí TT và L đứng chờ, nói dối TT “Xe bị giao thông bắt rồi, cứ về đi ngày mai mang tiền lên chuộc”. Sau đó H điều khiển xe mô tô chở TT và L đi về xã Kiên Đ, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang, đưa TT về nhà bà của H ngủ, còn H và L đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 09/5/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đỏ chở L đi xuống tỉnh Bắc Ninh để làm thuê, mục đích của H là bỏ trốn khỏi địa phương. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên H đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn đỏ cho một người đàn ông không quen biết tại tỉnh Bắc Ninh và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã ban hành Quyết định truy tìm người số 398 đối với Hoàng Quốc H. Đến ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã truy tìm được Hoàng Quốc H.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chiêm Hóa, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS màu sơn Xám-Xanh-Đen-Bạc, biển số đăng ký 22F1-3.., tại thời điểm tháng 5/2024 có trị giá là: 18.643.000đ (Mười tám triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số 69/CT-VKSCH ngày 26/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Hoàng Quốc H về tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc H phạm tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Quốc H từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/10/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên kh ng đề nghị xét xét; người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan anh Hoàng Văn D không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền mua xe, do vậy giành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi anh D có yêu cầu.

- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Quốc H tiếp tục khai nhận TT bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo không có ý kiến hay kH nại gì kết luận định giá tài sản. Bị cáo nhất trí luận tội, không có ý kiến tranh luận và cũng kh ng có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại Chu Đức TT và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan ng Chu Văn Th là ông Hoàng Văn V trình bày: Nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, anh TT và ông Th kh ng đề nghị bị cáo bồi thường gì, nên kh ng đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc kH nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận TT bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 08/5/2024, bị cáo Hoàng Quốc H đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển số 22F1-3.. màu sơn xám-xanh-đen-bạc có trị giá: 18.643.000đ (Mười tám triệu, sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng) đối với anh Chu Đức TT để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của bị cáo Hoàng Quốc H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại, lấy tiền chi tiêu cá nhân, hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 27/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 09 tháng 27 ngày tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2020); ngày 06/8/2023 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị xét xử và chấp hành án phạt tù nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà có căn cứ, cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo H không có tài sản riêng, nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Chu Văn TT, người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ L quan Chu Văn Th, Hoàng Văn D đều không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, màu sơn xám-xanh-đen-bạc, gắn biển số 22F1-3…; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe m t , xe máy số 2…..006696, tên chủ xe: Chu Văn Th. Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã trả lại TT bộ tài sản trên cho ông Th là chủ sở hữu phợp pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với Hoàng Văn D khi mua chiếc xe mô tô biển số 22F1-3.. không biết xe mô tô trên là do Hoàng Quốc H lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có, do vậy kh ng đề cập xử lý.

Đối với Lý Thị Kim L là người cho H sử dụng số tài khoản 0349.. của mình từ tháng 12/2023, việc H sử dụng tài khoản để giao dịch số tiền do lừa đảo chiếm đoạt tài sản, L không biết và kh ng được bàn bạc, hưởng lợi gì từ H, do vậy kh ng đề cập xử lý.

Đối với Chu Văn Th có hành vi vi phạm “Giao xe cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông”; Chu Đức TT đã có hành vi vi phạm “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy”; Hoàng Quốc H có hành vi vi phạm“Điều khiển xe mô tô biển số 22F1-397.98 chở theo 02 người trên xe” và “Không có giấy phép lái xe”. Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã ban hành Văn bản số 628 và chuyển tài liệu có L quan đến Công an huyện Chiêm Hóa để xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Quốc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan; người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

- Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc H 01 (Một) năm 03 ( a) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/10/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hoàng Quốc H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan; người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ