vanban.org

Bản án 71/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Kim T được ly hôn với anh Phan Dương C. Về quan hệ con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14/3/2024
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Trần Quang Thái.

- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: ông Bùi Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 413/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trần Thị Kim T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: anh Phan Dương C, sinh năm 1992.

Địa chỉ: khóm T, thị trấn O, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn chị T có đơn xin vắng mặt. Anh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Trần Thị Kim T trình bày:

Chị với anh Phan Dương C bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2017, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn O. Từ khi sống chung vợ chồng sống không hạnh phúc do anh C thường xuyên ăn nhậu, say xỉn rồi đánh đập vợ con. Chị cũng có báo Công an và Hội phụ nữ để nhờ can thiệp. Chị cũng đã cho anh C nhiều cơ hội sửa đổi nhưng không có kết quả. Sau một thời gian không thể chịu đựng được nữa nên chị đã quyết định về nhà cha mẹ ruột sống và chị với anh C cũng chính thức sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể quay lại sống chung với anh C được nữa nên chị T yêu cầu giải quyết như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Kim T xin được ly hôn với anh Phan Dương C.

+ Về quan hệ con chung: có hai con chung tên Phan Minh P sinh ngày 11/5/2018 và Phan Dương T sinh ngày 25/4/2020 hiện đang sống với chị T. Sau ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cả hai con, không yêu cầu cấp dưỡng.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Phan Dương C: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh C nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dâ sự năm 2015.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: chị Trần Thị Kim T được ly hôn với anh Phan Dương C.

Về con chung: giao con chung Minh P và Dương T cho chị T nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.

Chị T là nguyên đơn nên phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Phan Dương C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp khóm T, thị trấn O, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Nguyên đơn chị Trần Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phan Dương C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh C.

Về nội dung tranh chấp:

Chị Trần Thị Kim T và anh Phan Dương C chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn O, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 20/7/2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim T, thấy: Kể từ khi bắt đầu sống chung cuộ sống vợ chồng đã không có hạnh phúc, anh C thường xuyên ăn nhậu say xỉn về đánh đập chị T và các con, mặc dù đã nhờ chính quyền địa phương can thiệp và cũng cho anh C nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng không có kết quả. Đến tháng 8/2023, do không chịu đựng được nữa nên chị T đã quyết định sống ly thân với anh Tào. Từ khi sống ly thân chị T và anh C không gặp nhau đề hàn gắn tình cảm. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn cũng thể hiện chị T và anh C đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh C không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về quan hệ con chung, thấy: từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay chị T là người trực tiếp nuôi con chung Minh P và Dương T. Phía anh C cũng không có văn bản thể hiện ý kiến tranh chấp con chung. Để ổn định cuộc sống cho các con cần giao con chung Minh P và Dương T cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi do chị T không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

Về án phí: chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim T.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Kim T được ly hôn với anh Phan Dương C.

- Về quan hệ con chung:

Giao hai con chung Phan Minh P sinh ngày 11/5/2018 và Phan Dương T sinh ngày 25/4/2020 cho chị Trần Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Phan Dương C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Trần Thị Kim T và anh Phan Dương C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định

- Về tài sản chung và nợ chung: ghi nhận không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Trần Thị Kim T và anh Phan Dương C phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí: chị Trần Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012070 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo:

Chị Trần Thị Kim T và anh Phan Dương C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ