vanban.org

Bản án 71/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Xử ly hôn giữa anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị Tuyết .

2 - Về con chung: Giao cháu Trần Mạnh Đ, sinh ngày 11/4/2018 cho anh Trần Đức D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng (hiện cháu Đ đang do anh D chăm sóc nuôi dưỡng). Chị Nguyễn Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh D và chi T ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị Tuyết .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 31 - 5 - 2024.
V/v ly hôn giữa anh D và chị T.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui.

2. Ông Lê Đức Chạc.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QĐST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Anh Trần Đức D, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

+ Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt anh D, vắng mặt chị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai của anh Trần Đức D trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện: Anh kết hôn với chị Nguyên Thị T1 vào tháng 02/2017 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 11/2020 thì chị T1 về nhà mẹ đẻ tại Xóm A, xã P, huyện N, tỉnh Nam Định để ở, vợ chồng anh sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm giữa anh và chị T1 không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết .

Về con chung: Giữa anh và chị T1 có một con chung là cháu Trần Mạnh Đ, sinh ngày 11/4/2018. Hiện cháu Đ đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu Đ và không yêu cầu chị T1 phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí anh đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Thị T vắng mặt. Lời khai của bà Lại Thị H (là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T) tại các buổi làm việc với Tòa án trình bày đúng như lời khai của anh Trần Đức D về quá trình kết hôn chung sống giữa anh D và chị T. Sau khi kết hôn vợ chồng anh D chị T chung sống hoà thuận hạnh phúc, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 11/2020 thì chị T về nhà bà tại xóm A, xã P, huyện N, tỉnh Nam Định để ở, vợ chồng anh D chị T sống ly thân từ đó cho đến nay. Do chị T không có mặt để nhận trực tiếp những văn bản tố tụng của của Tòa án nên gia đình đã nhận thay và đã thông báo cho chị T đầy đủ. Mặt khác do chị T phải đi làm không thể đến tòa án để làm việc được chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị và chị có nhờ gia đình chuyển quan điểm của chị về việc giải quyết vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đức D xin ly hôn chị thì tùy anh D.

Về con chung giữa: Giữa chị và anh D có một con chung là cháu Trần Mạnh Đ, sinh ngày 11/4/2018. Hiện cháu Đ đang do anh D chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị để anh D trực tiếp nuôi cháu Đ và chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị T; Về con chung: Giao cháu Trần Mạnh Đ, sinh ngày 11/4/2018 cho anh Trần Đức D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D; Về án phí dân sự sơ thẩm: anh D phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị T đều cư trú tại huyện N. Nay anh Trần Đức D xin ly hôn chị Nguyễn Thị T thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng chị T nhưng chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị T vào tháng 02 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 11/2020 thì vợ chồng anh D chị T sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía chị T có quan điểm anh D muốn ly hôn thì tùy anh D. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử ly hôn giữa anh D và chị T.

Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D và chị T đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay anh D xin ly hôn chị T nên chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị T đều thống nhất xác định vợ chồng có một con chung là cháu Trần Mạnh Đ, sinh ngày 11/4/2018. Hiện cháu Đ đang do anh D chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh D chị T Phía đều thống nhất giao cháu Đ cho anh D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D. Thấy thỏa thuận của anh D và chị T là tự nguyện phù hợp quy định của pháp luật không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.

Về tài sản chung vợ chồng: Anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị T đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Đức D phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1 - Xử ly hôn giữa anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị Tuyết .

2 - Về con chung: Giao cháu Trần Mạnh Đ, sinh ngày 11/4/2018 cho anh Trần Đức D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng (hiện cháu Đ đang do anh D chăm sóc nuôi dưỡng). Chị Nguyễn Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.

3 - Án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Đức D phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị anh D đã nộp theo biên lai số 0001310 ngày 09/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, anh D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ