vanban.org

Bản án 71/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị C được ly hôn với anh Huỳnh Văn N. Về con: Hai người con Huỳnh Khánh V, sinh ngày 15/3/1999 và Huỳnh Nhứt D, sinh ngày 10/4/2006 đã thành niên nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị C yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-5-2024
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng, bà Cao Thị Lệ Pha.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Lê Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Hồ Thị C, sinh năm 1981.

Địa chỉ: ấp TA, xã LĐ, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N (Huỳnh Phương N), sinh năm 1979.

Địa chỉ: ấp TA, xã LĐ, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

(chị C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, trong quá trình tố tụng chị Hồ Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh N chung sống năm 1998, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám theo phong tục tại địa phương và có đến Ủy ban nhân dân xã Long Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đăng ký kết hôn ngày 01/12/2003.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người một suy nghĩ, cách sống khác nhau. Vợ chồng cũng đã nhiều lần hòa giải để tiếp tục chung sống nhưng không thành. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh N.

Về con: Chị và anh N có 02 người con chung là Huỳnh Khánh V, sinh ngày 15/3/1999 và Huỳnh Nhứt D, sinh ngày 10/4/2006. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi người con Huỳnh Nhứt Duy, không yêu cầu cấp dưỡng; người con Huỳnh Khánh Vy đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Văn N vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Năm 1998, chị C và anh N tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống, chị C và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị C và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị C được ly hôn với anh N là phù hợp.

Về con chung: Xét thấy người con Huỳnh Khánh V, sinh ngày 15/3/1999 và Huỳnh Nhứt D, sinh ngày 10/4/2006 đến nay đã thành niên nên không xem xét.

Về tài sản: Chị C không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Hồ Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn N, anh N có địa chỉ cư trú tại ấp TA, xã LĐ, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh N.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Năm 1998, chị C và anh N tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị C và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị C xác định mâu thuẫn giữa chị và anh N đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị C và anh N không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt văn bản trực tiếp, triệu tập anh N đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị C và anh N đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị C được ly hôn với anh N là phù hợp.

. Về con: Xét thấy, đến nay hai người con người con Huỳnh Khánh V, sinh ngày 15/3/1999 và Huỳnh Nhứt D, sinh ngày 10/4/2006 đã thành niên nên không xem xét.

. Về tài sản: Chị C không yêu cầu nên không xem xét.

. Về án phí: Chị C nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị C được ly hôn với anh Huỳnh Văn N.

2. Về con: Hai người con Huỳnh Khánh V, sinh ngày 15/3/1999 và Huỳnh Nhứt D, sinh ngày 10/4/2006 đã thành niên nên không xem xét.

3. Về tài sản: Chị Hồ Thị C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị C nộp số tiền 300.000 đồng, chị Hồ Thị C đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010113 vào ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, chị Hồ Thị C, anh Huỳnh Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ