- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Tuấn A xác định cha cho con đối với chị Dương Thị H"
- Tòa quyết gì? Xác định anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của 01 con gái do chị Dương Thị H sinh ra ngày 30 tháng 01 năm 2023, theo Giấy chứng sinh số 03, quyển số 01 do Trạm y tế xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 30 tháng 01 …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| a TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 04 - 2024 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân .
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lương.
Bà Bùi Thúy Mở.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 326/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp về xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1989; nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Nguyễn Tuấn A là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung như sau: Chị Dương Thị H và anh Nguyễn Văn L trước đây có quan hệ hôn nhân với nhau. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và dẫn đến việc sống ly thân nhau từ đầu năm 2022. Trong thời gian vợ chồng ly thân, anh A đã gặp gỡ, quen biết và phát sinh quan hệ tình cảm với chị Dương Thị H, dẫn đến việc chị H mang thai. Đến ngày 30 tháng 01 năm 2023, chị Dương Thị H đã sinh 01 con gái tại Trạm y tế xã V, huyện B tỉnh Lạng Sơn. Ngày 11 tháng 7 năm 2022, chị H và anhh L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 57/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 22 tháng 6 năm 2023, anh A và chị H làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, Hải Phòng. Nay, để đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ cho các đương sự và cho con chung, anh A đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của con gái do chị H sinh ra ngày 30 tháng 01 năm 2023.
Tại bản tự khai ngày 10/01/2024, chị Dương Thị H là bị đơn thừa nhận những lời khai của anh Nguyễn Tuấn A là đúng sự thật. Chị H xác định anh Nguyễn Tuấn A là cha đẻ của con gái do chị H sinh ra vào ngày 30 tháng 01 năm 2023.
Tạ biên bản lấy lời khai ngày 19/01/2024 do Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn thực hiện ủy thác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L trình bày anh và chị Dương Thị Hòa kết h vào năm 2005. Trong quá trình chung sống, anh và chị H đã phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn theo quyết định của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn. Nay, chị H có yêu cầu xác định cha cho con thì anh L không có ý kiến gì, đây là con riêng của chị H, không liên quan đến anh. Do bận công việc nên anh L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết vắng mặt và thông báo kết quả cho anh được biết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 88, 89, 91, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Nguyễn Tuấn A là cha đẻ của của con gái do chị Dương Thị H sinh ra vào ngày 30 tháng 01 năm 2024. Chị Dương Thị H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết
Anh Nguyễn Tuấn A có đơn khởi kiện xác định cha cho con đối với chị Dương Thị H. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Dương Thị H đăng ký thường trú tại thôn B, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tại thời điểm Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên thụ lý vụ án, chị H sinh sống cùng với anh A tại thôn D, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng và đã nhận đầy đủ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác của Tòa án. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự
Bị đơn là chị Dương Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về yêu cầu xác định cha cho con của anh Nguyễn Tuấn A đối với chị Dương Thị Hòa
Anh Nguyễn Tuấn A và chị Dương Thị H đều thống nhất nội dung anh Nguyễn Tuấn A là cha đẻ của con gái do chị Dương Thị H sinh ra vào ngày 30 tháng 01 năm 2023, theo Giấy chứng sinh số 03, quyển số 01 do Trạm y tế xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 30 tháng 01 năm 2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L có văn bản trình bày ý kiến thể hiện con do chị H sinh ra vào ngày 30 tháng 01 năm 2023 là con riêng của chị H và không có liên quan gì đến anh L. Kết quả xét nghiệm ADN ngày 12/01/2024 của Công ty TNHH D kết luận: Anh Nguyễn Tuấn A có quan hệ huyết thống cha – con với người dự định đặt tên là Dương Minh C, với độ tin cậy 99,999999%. Tại Công văn số 010603/2024/CV-ADN ngày 06/3/2024 của Công ty TNHH D khẳng định về kết quả giám định ADN nêu trên và gửi kèm theo là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp về việc được đăng ký trong lĩnh vực xét nghiệm ADN. Do vậy, đủ cơ sở để kết luận anh Nguyễn Tuấn A là cha đẻ của 01 con gái do chị Dương Thị H sinh ra ngày 30 tháng 01 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 03, quyển số 01 do Trạm y tế xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 30 tháng 01 năm 2023 là phù hợp với các điều 88, 89, 91, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là chị Dương Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc xác định cha cho con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 88, 89, 91, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Xác định anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của 01 con gái do chị Dương Thị H sinh ra ngày 30 tháng 01 năm 2023, theo Giấy chứng sinh số 03, quyển số 01 do Trạm y tế xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 30 tháng 01 năm 2023.
2. Về án phí: Chị Dương Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc xác định cha cho con.
3. Về quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Dương Thị H, anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND TP. Hải Phòng; - VKSND H.Thủy Nguyên; - Chi cục THADS H. Thủy Nguyên; - UBND xã Mỹ Đồng; H.Thủy Nguyên; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huân |