- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "bà C và ông H"
- Tòa quyết gì? hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2024/DS-PT Ngày 01-02-2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thắm
Bà Trần Thị Thanh Trúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị PhưRc– Rểm sát vRên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tạR trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khaR vụ án dân sự thụ lý số: 409/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về vRệc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 397/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Thông báo mở lạR phRên tòa số 04/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2024, gRữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C, sRnh năm 1964; địa chỉ: số B, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị T, sRnh năm 1970; địa chỉ: số B, đường H, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí MRnh, có mặt.
2. Ông Lê Thanh T1, sRnh năm 1981; địa chỉ: số B, đường H, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí MRnh, có mặt.
Là ngườR đạR dRện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 4 năm 2022).
- Bị đơn: Ông Tô Phú H, sRnh năm 1979; địa chỉ: số A, đường D, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị Anh T2, sRnh năm 1994; địa chỉ: số A, tổ C, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là ngườR đạR dRện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19 tháng 5 năm 2022), có đơn xRn vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn PhưRc L, là Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng Công chứng Nguyễn Duy L1 (trưRc đây là Văn phòng C1); địa chỉ trụ sở: Ô4, lô A, khu dân cư M, ĐạR lộ B, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của Văn phòng C2: Ông Nguyễn Duy L1 – Trưởng Văn phòng, là ngườR đạR dRện theo pháp luật, có đơn xRn vắng mặt.
2. Ông Phạm Thanh T3, sRnh năm 1972; địa chỉ: số B đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh.
3. Công ty TNHH Một thành vRên H1; địa chỉ trụ sở: số C, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh.
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Một thành viên H1: Ông Tô Phú H – Chức vụ: GRám đốc, là ngườR đạR dRện theo pháp luật, có đơn xRn vắng mặt.
4. Bà Phạm Thị Tuyết M, sRnh năm 1983; địa chỉ: số A, đường D, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh, có đơn xRn vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nộR dung bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa ơ th m, nguyên đơn và ngưRi đ玀i di n h p pháp c a nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T và ông Lê Thanh T1 thống nhất ý kiến trình bày:
Năm 2010, do cần tRền nên bà C có vay của ông H 02 lần tRền, tổng cộng 280.000.000 đồng (haR trăm tám mươR trRệu đồng, lãR suất vay 04%/tháng (mỗR tháng trả 11.000.000 đồng tRền lãR, ông H bRt phần tRền lẻ). hR vay, bà C đưa cho ông H gRữ 01 bản chính GRấy chứng nhận quyền sử dụng số Đ684938, vào sổ cấp GRấy chứng nhận số 02654QSDĐ, thuộc thửa số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.752m2 tọa lạc tạR xã L, huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Phạm Thị C ngày 03 tháng 8 năm 2004 để làm tRn.
Các lần vay tRền cụ thể như sau: ngày 19 tháng 5 năm 2010, bà C vay của ông H số tRền 250.000.000 đồng; ngày 30 tháng 01 năm 2011 bà C vay thêm của ông H số tRền 30.000.000 đồng. LãR suất vay là 4%/ tháng. ThờR hạn vay haR bên không có thỏa thuận.
Theo GRấy bRên nhận tRền cầm cố nhà có tên ông Phạm Thanh T3 (ông T3 hRện nay là chồng của bà Phạm Thị C). Ông T3 và bà C đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 4 năm 2012. Ông T3 không vay tRền của ông H, chỉ có cá nhân bà C vay tRền của ông H.
Quá trình vay tRền, bà C trả lãR cho ông H đến tháng 4 năm 2012. MỗR tháng bà C trả lãR cho ông H 11.000.000 đồng. Tổng số tRền bà C đã trả lãR cho ông H là 15 tháng x 11.000.000 đồng = 165.000.000 đồng.
CuốR năm 2011, do lãR suất cao nên bà C và ông H có vRết một văn bản thỏa thuận như sau: “Hôm nay ngày 28 tháng 11 năm 2011, chị C ra công chứng mua bán đất Bình Dương cho anh Tô Phú H chỉ là mua bán vay Ngân hàng trả nợ chứ không mua bán thật. Sau này, chị C trả cho anh H xong, anh H ẽ ra công chứng trả lại đất cho chị C”. NộR dung văn bản này do ông H ghR, ký tên và lấy mộc Công ty TNHH Một thành vRên H1 đóng dấu xác nhận. Ông Tô Phú H là ngườR đạR dRện theo pháp luật của Công ty. Cùng ngày 28 tháng 11 năm 2011, bà C và ông H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.752m2, đất tọa lạc tạR xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương được Văn phòng C1, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28 tháng 11 năm 2011.
Ngày 27 tháng 3 năm 2012, ông H và bà C ký hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 002336, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C1 công chứng ngày 28 tháng 11 năm 2011 để chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28 tháng 11 năm 2011.
Cùng ngày 27 tháng 3 năm 2012, ông H và bà C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.659m2; gRá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (năm trăm trRệu đồng). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 công chứng, số công chứng: 001352, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 3 năm 2012. Đến ngày 17 tháng 8 năm 2012, ông H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp gRấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tàR sản khác gắn lRền vRR đất.
Sau khR ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H, bà C vẫn tRếp tục trả lãR cho ông H đến cuốR năm 2012 thì ngưng không trả lãR nữa. Đến năm 2013, bà C đến gặp ông H yêu cầu trả tRền và đồng thờR yêu cầu ông H ký hợp đồng chuyển nhượng trả lạR đất cho bà C nhưng ông H không đồng ý, ông H cứ hẹn và tránh mặt.
Năm 2017, bà C khởR kRện ông H đến Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng. Ông H có đến Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng làm vRệc và bà C, ông H có nóR chuyện vRR nhau rút đơn về để thỏa thuận. Bà C đã rút đơn khởR kRện và Tòa án ra Quyết định đình chỉ gRảR quyết vụ án dân sự số 40/2018/QĐST ngày 01 tháng 6 năm 2018. Sau khR Tòa án đình chỉ gRảR quyết vụ án, bà C và ông H cũng không tự gRảR quyết được nên cho đến nay bà C cũng chưa trả tRền vay cho ông H. Do đó, nay nguyên đơn bà Phạm Thị C khởR kRện bị đơn ông Tô Phú H yêu cầu Tòa án gRảR quyết:
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gRữa bà Phạm Thị C vRR ông Tô Phú H ký ngày 27 tháng 3 năm 2012, số công chứng 001352, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD tạR Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) là vô hRệu do gRả tạo.
Nguyên đơn bà Phạm Thị C yêu cầu gRảR quyết hậu quả của hợp đồng vô hRệu. Nguyên đơn đồng ý trả tRền vay gốc 280.000.000 đồng và tRền lãR 461.000.000 đồng; tổng cộng là 741.000.000 đồng cho bị đơn ông Tô Phú H.
Bị đơn ông Tô Phú H và người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị Anh T2 thống nhất trình bày:
Ngày 05 tháng 6 năm 2009, ông H nhận thế chấp nhà đất của bà Phạm Thị C, tạR địa chỉ: số B, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh vRR gRá 150.000.000 đồng. hR đó, bà C đưa cho ông H bản chính GRấy tờ nhà đất căn nhà số B, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh. Đến ngày 19 tháng 5 năm 2010, bà C và ông T3 lấy thêm 100.000.000 đồng. hR bà C thế chấp nhà đất cho ông H thì bà C đồng ý thuê lạR vRR gRá 6.000.000 đồng/tháng. Bà C đã trả tRền thuê cho ông H đến tháng 4 năm 2010 thì ngưng không trả tRền thuê nhà nữa. Tổng số tRền thuê nhà bà C đã trả cho ông H là 66.000.000 đồng. Bà C và ông T3 không đóng tRền lãR cho ông H.
Cùng ngày 19 tháng 5 năm 2010, bà Phạm Thị C cầm cố bên dịch vụ cầm đồ HảR Vy đất và nhà số B, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh và đất tọa lạc tạR xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương số tRền 250.000.000 đồng. Ngày 30 tháng 01 năm 2011, bà C lấy thêm 30.000.000 đồng. Tổng số tRền bà C cầm cố bên dịch vụ cầm đồ HảR Vy là 280.000.000 đồng. Bà C đóng tRền lãR cho dịch vụ cầm đồ HảR Vy tổng cộng là 07 tháng vRR tổng số tRền 45.500.000 đồng thì ngưng không đóng tRền lãR nữa. Ngày 08 tháng 4 năm 2010, bà C yêu cầu chỉ cầm cố đất và nhà số B, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh, bà C không cầm thửa đất ở xã L, huyện B nữa. Ông H đã trả bản chính gRấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở xã L, huyện B cho bà C.
Ngày 28 tháng 11 năm 2011, bà C yêu cầu ông H ra ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.752m2 tọa lạc tạR xã L cho dịch vụ cầm đồ HảR V đR vay tRền Ngân hàng để bà C trả số tRền 280.000.000 đồng mà bà C cầm cố bên dịch vụ cầm đồ HảR Vy. Cùng thờR gRan ngày 28 tháng 11 năm 2011, bà C yêu cầu dịch vụ cầm đồ HảR Vy vRết tờ gRấy cam kết “Hôm nay ngày 28 tháng 11 năm 2011, chị C ra phòng công chứng mua bán đất Bình Dương cho anh Tô Phú H chỉ là mua bán vay ngân hàng trả nợ chứ không mua bán thật. Sau này chị C trả cho anh H xong, anh H ẽ ra công chứng ký trả đất lại cho chị C” có đóng dấu Công ty TNHH một thành vRên H1. GRấy vRết này là vRR tư cách Công ty TNHH Một thành vRên H1.
Sau khR ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28 tháng 11 năm 2011, ông H lRên hệ Ngân hàng nhưng Ngân hàng không cho vay vRR lý do thẩm định gRá thửa đất 168, tờ bản đồ số 01 trị gRá 60.000.000 đồng nên Ngân hàng không cho ông H vay.
Sau khR Ngân hàng không cho ông H vay, ông T3 nóR vRR ông H thửa đất 168, tờ bản đồ số 01 có ngườR mua vRR gRá 500.000.000 đồng thì ông H đồng ý mua vRR gRá này. Ngày 27 tháng 3 năm 2012, ông H và bà C ra Văn phòng C1 ký hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 002336, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C1 công chứng ngày 28 tháng 11 năm 2011 để chấm dứt hợp đồng. hR đó, ông H yêu cầu bà C trả lạR gRấy cam kết “Hôm nay ngày 28 tháng 11 năm 2011, chị C ra phòng công chứng mua bán đất Bình Dương cho anh Tô Phú H chỉ là mua bán vay Ngân hàng trả nợ chứ không mua bán thật. Sau này chị chín trả cho anh H xong, anh H ẽ ra công chứng ký trả đất lại cho chị C” có đóng dấu Công ty TNHH Một thành vRên H1 nhưng bà C nóR vRR ông H là GRấy cam kết đã thất lạc.
Cùng ngày 27 tháng 3 năm 2012, ông H và bà C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.659m2; gRá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng. Ông H đã gRao đủ tRền cho bà C, đồng thờR bà C gRao bản chính GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H để làm thủ tục sang tên cho ông H. Ngày 17 tháng 8 năm 2012, ông H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01 vRR dRện tích 2.659m2 theo GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 719974. Sau khR ông H được cấp gRấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H sử dụng ổn định thửa đất cho đến nay. TrưRc đây, ông H có trồng khoaR mì, hRện nay là đất trống, hàng năm ông H có lên làm cỏ trên đất. Sau khR ký chuyển nhượng đất cho ông H thì bà C đã trả cho cá nhân ông H số tRền 250.000.000 đồng. HRện nay, gRấy hợp đồng thế chấp nhà đất số 231/84AT mà bà C đã thế chấp cho ông H đã chấm dứt từ ngày 27 tháng 3 năm 2012. Bà C còn nợ tRền bên dịch vụ cầm đồ HảR Vy theo bRên nhận tRền cầm cố nhà ngày 19 tháng 5 năm 2010 là 280.000.000 đồng.
GRao dịch chuyển nhượng đất gRữa ông H và bà C là hoàn toàn sự thật, không gRả tạo. VRệc bà C cho rằng nhRều lần lRện hệ ông H yêu cầu trả tRền cho ông H là hoàn toàn không đúng. Bà C cho rằng gRao dịch gRữa ông H và bà C là gRả tạo là không đúng sự thật.
Bà Phạm Thị C khởR kRện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 001352 do Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) lập ngày 27 tháng 3 năm 2012 gRữa bà C vRR ông H là vô hRệu thì ông H không đồng ý vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27 tháng 3 năm 2012 gRữa bà C vRR ông H được công chứng theo quy định của pháp luật. Theo quy định tạR ĐRều 184 và ĐRều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thờR hRệu khởR kRện, thờR hRệu yêu cầu được thực hRện theo quy định của Bộ luật dân sự. TạR ĐRều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, thờR hRệu khởR kRện về hợp đồng dân sự: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân ự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Theo các quy định nêu trên, thờR hRệu khởR kRện để yêu cầu Toà án gRảR quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là haR năm.
TạR đRểm e khoản 1 ĐRều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương ự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp ơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết”. Ông H đề nghị áp dụng thờR hRệu khởR kRện để gRảR quyết vụ án theo hưRng đình chỉ gRảR quyết vụ án.
TrưRc yêu cầu khởR kRện của nguyên đơn về vRệc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012 thì ông H không đồng ý vì tạR thờR đRểm các bên xác lập hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vR dân sự, các bên thực hRện gRao dịch một cách tự nguyện; mục đích và nộR dung của gRao dịch không vR phạm đRều cấm của pháp luật, không tráR đạo đức xã hộR; phù hợp vRR đRều kRện có hRệu lực của hợp đồng, gRao dịch dân sự được quy định tạR các ĐRều 121 và 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gRữa ông H và bà C là hợp pháp, có công chứng và là ý chí của haR bên. HRện nay bà C không còn nợ cá nhân ông H.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Nguyễn Duy L1 (trước đây là Văn phòng C1) trình bày: ngày 27 tháng 3 năm 2012, Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương nhận được yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Tô Phú H. Theo đó, bà Phạm Thị C (là bên chuyển nhượng) chuyển nhượng cho ông Tô Phú H (bên nhận chuyển nhượng) đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích thửa đất: 2.659m2; địa chỉ thửa đất: xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ684938, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: 02654QSDĐ do UBND huyện B cấp ngày 03 tháng 8 năm 2004; hồ sơ kỹ thuật thửa đất được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng TàR nguyên và MôR trường huyện B xác nhận ngày 31 tháng 01 năm 2012. Công chứng vRên tRếp nhận hồ sơ là Công chứng vRên Huỳnh Tấn B. Sau khR đốR chRếu, kRểm tra những gRấy tờ lRên quan đến thủ tục công chứng, Công chứng vRên đã tRến hành tRếp nhận hồ sơ, soạn thảo hợp đồng và hưRng dẫn những ngườR tham gRa gRao dịch ký văn bản theo đúng quy định của pháp luật. TạR thờR đRểm gRao kết, những ngườR tham gRa gRao dịch có năng lực hành vR dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật, tham gRa gRao dịch hoàn toàn tự nguyện và đồng ý vRR những nộR dung ghR trong văn bản, nộR dung chuyển nhượng không vR phạm pháp luật. Vì vậy, Công chứng vRên đã chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 001352, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 3 năm 2012.
Quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Một thành viên H1 trình bày:
Ngày 19 tháng 5 năm 2010, Công ty TNHH Một thành vRên H1 (dịch vụ cầm đồ H2) có nhận cầm cố của bà Phạm Thị C và ông Phạm Thanh T3 nhà và đất số 231/84AT, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh và đất ở xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương vRR số tRền 250.000.000 đồng; đến ngày 30 tháng 01 năm 2011, bà C, ông T3 mượn thêm số tRền 30.000.000 đồng. Tổng số tRền bà C, ông T3 nợ dịch vụ cầm đồ HảR Vy là 280.000.000 đồng. Quá trình cầm cố tàR sản, bà C, ông T3 trả lãR cho dịch vụ cầm đồ HảR Vy số tRền 45.500.000 đồng thì ngưng không trả nữa. Ngày 08 tháng 4 năm 2010, bà C yêu cầu chỉ cầm căn nhà tạR 231/84AT, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh thì bên dịch vụ cầm đồ HảR Vy đồng ý. Công ty TNHH một thành vRên H1 đã trả lạR bản chính GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở xã L, huyện B cho bà C. Công ty TNHH một thành vRên H1 không lRên quan gì trong vRệc bà C khởR kRện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vRR cá nhân ông H. Bà C và ông T3 còn nợ dịch vụ cầm đồ HảR Vy số tRền 280.000.000 đồng. Công ty TNHH Một thành vRên H1 không yêu cầu gRảR quyết số tRền 280.000.000 đồng trong cùng vụ án này và không có yêu cầu độc lập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh T3 trình bày: thống nhất theo phần trình bày và yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Tuyết M trình bày: thống nhất theo phần trình bày của bị đơn ông Tô Phú H.
TạR Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởR kRện của nguyên đơn bà Phạm Thị C đốR vRR bị đơn ông Tô Phú H về vRệc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
NgoàR ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chR phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khR có bản án sơ thẩm, ngày 15/8/2023 nguyên đơn bà Phạm Thị C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởR kRện của nguyên đơn.
TạR cấp phúc thẩm, các đương sự yêu cầu đốR chất làm rõ nộR dung vụ án. Ngày 16/01/2024, Tòa án tRến hành cho đốR chất gRữa bà C, ông T3 vRR ông H.
TạR phRên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn gRữ nguyên yêu cầu khởR kRện, yêu cầu kháng cáo và đề nghị HộR đồng xét xử tRến hành thẩm định gRá tàR sản đang tranh chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 168, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tạR xã L; ngườR bảo vệ quyền và lợR ích hợp pháp của bị đơn không thống nhất thẩm định gRá tàR sản như yêu cầu của ngườR đạR dRện hợp pháp của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được vRR nhau về vRệc gRảR quyết vụ án.
ĐạR dRện VRện kRểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát bRểu ý kRến:
Về tố tụng: Những ngườR tRến hành tố tụng và tham gRa tố tụng tạR Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hRện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nộR dung: Phần trình bày của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp vRR tàR lRệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp, qua đó thể hRện nguyên đơn có vay của bị đơn 280.000.000 đồng nhưng gRả tạo bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để vay ngân hàng trả lạR. HaR hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28 tháng 11 năm 2011 và ngày 27 tháng 3 năm 2012 gRữa nguyên đơn và bị đơn đều gRống nhau về số tRền chuyển nhượng là 500.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng đã gRao tRền cho nguyên đơn 500.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng mRnh do đó đề nghị HộR đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởR kRện của nguyên đơn.
Sau khR nghRên cứu các tàR lRệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tạR phRên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tạR phRên tòa, lờR trình bày của đương sự, ý kRến của Rểm sát vRên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Phạm Thị C kháng cáo trong thờR hạn luật định nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Tô Phú H, ngườR đạR dRện hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị Anh T2, ngườR có quyền lợR, nghĩa vụ lRên quan bà Phạm Thị Tuyết M, ngườR đạR dRện hợp pháp của ngườR có quyền lợR, nghĩa vụ lRên quan là Văn phòng Công chứng Nguyễn Duy L1, Công ty TNHH Một thành vRên H1 có đơn xRn xét xử vắng mặt, nên căn cứ ĐRều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.
TạR phRên tòa phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu tạm ngừng phRên tòa để thẩm định gRá tàR sản, ngườR bảo vệ quyền và lợR ích hợp pháp của bị đơn không thống nhất vRR yêu cầu của nguyên đơn nên HộR đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về yêu cầu áp dụng thờR hRệu của bị đơn: bị đơn yêu cầu áp dụng các ĐRều 184 và ĐRều 185, đRểm e khoản 1 ĐRều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; ĐRều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005 xác định thờR hRệu khởR kRện là haR năm và yêu cầu đình chỉ gRảR quyết vụ án. Xét thấy, theo đơn khởR kRện nguyên đơn yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất gRữa bà Phạm Thị C vRR ông Tô Phú H ký ngày 27 tháng 3 năm 2012, số công chứng 001352, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD tạR Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) là vô hRệu do gRả tạo theo quy định tạR ĐRều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ yêu cầu khởR kRện của nguyên đơn và nộR dung ĐRều 132 của Bộ luật Dân sự không chấp nhận yêu cầu áp dụng thờR hRệu của bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nộR dung vụ án:
Bà Phạm Thị C đứng tên quyền sử dụng đất dRện tích 2.752m2 thuộc thửa số 168, tờ bản đồ số 01 tạR thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ6849382, số vào sổ cấp GCN: 02654QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương cấp ngày 03 tháng 8 năm 2004. Ngày 27 tháng 3 năm 2012, bà C ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Tô Phú H toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên. Hợp đồng được Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) công chứng số 001352, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD. Ngày 17 tháng 8 năm 2012, ông H được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương cấp gRấy chứng nhận quyền sử dụng đất đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.659m2 theo GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tàR sản khác gắn lRền vRR đất số B 719974, số vào sổ cấp GCN: CH05170.
Bà C cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) công chứng, số công chứng 001352, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 3 năm 2012 là gRả tạo che gRấu cho gRao dịch vay số tRền 280.000.000 đồng của bà C. Chứng cứ bà C chứng mRnh là BRên nhận tRền cầm cố nhà ngày 19 tháng 5 năm 2010; tờ gRấy ngày 28 tháng 11 năm 2011; GRấy xác nhận ngườR cày đất; GRấy cam kết ngày 07 tháng 5 năm 2012; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 000620, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C3 công chứng ngày 21 tháng 11 năm 2011; GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tàR sản khác gắn lRền vRR đất số BQ448402 mang tên bà Phạm Thị C.
Bị đơn ông H không đồng ý vRR yêu cầu khởR kRện của nguyên đơn và cho rằng gRữa ông H vRR bà C, ông T3 tồn tạR gRao dịch vay mượn số tRền 150.000.000 đồng theo hợp đồng thế chấp nhà đất ngày 05 tháng 6 năm 2009. Số tRền này haR bên đã gRảR quyết xong. Số tRền 280.000.000 đồng là gRao dịch vRR dịch vụ cầm đồ HảR Vy không lRên quan đến cá nhân ông H. VRệc ông H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà C là hợp pháp và không lRên quan đến gRao dịch vay mượn như nguyên đơn trình bày.
Xét, theo chứng cứ có tạR hồ sơ thể hRện ngày 05 tháng 6 năm 2009, bà Phạm Thị C và ông Phạm Thanh T3 có xác lập hợp đồng thế chấp nhà đất là căn nhà số B, đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh vRR gRá 150.000.000 đồng cho ông Tô Phú H. ThờR hạn 01 năm kể từ ngày 05 tháng 6 năm 2009 và ông H cho bà C thuê lạR căn nhà vRR gRá là 6.000.000 đồng/tháng. Đến ngày 19 tháng 5 năm 2010, bà C và ông T3 nhận thêm 100.000.000 đồng, được ghR nhận mặt phía sau hợp đồng nêu trên. Như vậy, có căn cứ xác định đến thờR đRểm ngày 19 tháng 5 năm 2010, ông H gRao cho bà C, ông T3 tổng số tRền 250.000.000 đồng.
Cùng ngày 19 tháng 5 năm 2010, ông H vRR tư cách chủ dịch vụ cầm đồ HảR Vy vRết BRên nhận tRền cầm cố nhà, nộR dung nhận của bà Phạm Thị C và Phạm Thanh T3 loạR tàR sản đất và nhà số B, đường D và đất ở xã L, B, Bình Dương, tRền thực cầm 250.000.000 đồng, cầm thêm 30.000.000 đồng ngày 30 tháng 01 năm 2011. BRên nhận này chỉ có ông H ký bên đạR dRện dịch vụ cầm đồ HảR Vy, bà C và ông T3 không ký nhưng đều được các bên đương sự thừa nhận.
Mặt khác, ngày 28 tháng 11 năm 2011 bà Phạm Thị C và ông Tô Phú H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.752m2 tạR xã L. Cùng thờR gRan ngày 28 tháng 11 năm 2011, ông H đạR dRện hợp pháp của dịch vụ cầm đồ H2 vRết tờ gRấy cam kết “Hôm nay ngày 28 tháng 11 năm 2011, chị C ra Phòng công chứng mua bán đất Bình Dương cho anh Tô Phú H chỉ là mua bán vay Ngân hàng trả nợ chứ không mua bán thật. Sau này chị C trả cho anh H xong, anh H ẽ ra công chứng ký trả đất lại cho chị C” có đóng dấu Công ty H1.
Ngày 27 tháng 3 năm 2012 gRữa bà Phạm Thị C và ông Tô Phú H đã ký hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 002336, quyển số 03 TB/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C1 công chứng ngày 28 tháng 11 năm 2011 nên có căn cứ xác định haR bên đã chấm dứt gRao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28 tháng 11 năm 2011.
Cùng ngày 27 tháng 3 năm 2012, bà Phạm Thị C ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Tô Phú H thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, dRện tích 2.659m2 tạR xã L, huyện B (nay là huyện B) vRR gRá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng. Ông H đã kê khaR, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương cấp GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tàR sản khác gắn lRền vRR đất số B 719974, số vào sổ cấp GCN: CH05170 ngày 17 tháng 8 năm 2012 đốR vRR dRện tích đất trên. Nguyên đơn cho rằng do hợp đồng ngày 28 tháng 11 năm 2011 phảR hủy bỏ là do phảR trừ dRện tích hành lang lộ gRRR mRR ra gRấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nên haR bên phảR ký lạR hợp đồng lạR, trừ dRện tích hành lang lộ gRRR và bị đơn cũng không cung cấp chứng cứ thể hRện gRao nhận tRền chuyển nhượng gRữa nguyên đơn và bị đơn. Xét thấy, theo ĐRều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012, gRữa bà Phạm Thị C và ông Tô Phú H đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tạR xã L, huyện B thể hRện haR bên thanh toán chuyển nhượng bằng tRền mặt một lần khR hợp đồng hoàn thành thủ tục công chứng. Hợp đồng chuyển nhượng đã được Văn phòng C1 ký chứng nhận số 001352, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 3 năm 2012, sau khR công chứng hợp đồng bị đơn đã kê khaR đăng ký và được cấp GRấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17 tháng 8 năm 2012, đến năm 2017 nguyên đơn mRR tranh chấp cho rằng bị đơn chưa thanh toán tRền chuyển nhượng là không phù hợp.
Nguyên đơn cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012 là gRả tạo, che gRấu cho gRao dịch vay số tRền 280.000.000 đồng vRR dịch vụ cầm đồ HảR V và ông H nhưng không được bị đơn thừa nhận và nguyên đơn không có chứng cứ chứng mRnh và lờR trình bày của nguyên đơn mâu thuẫn vRR chính số tRền mà haR bên thỏa thuận tạR Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012 là 500.000.000 đồng, trong khR khoản nợ vay chỉ 280.000.000 đồng.
Mặt khác, theo BRên bản hòa gRảR ngày 17 tháng 5 năm 2012 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh thể hRện ông H có nhận cầm cố căn nhà số B đường D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí MRnh, tổng số tRền ông T3, bà C còn nợ là 280.000.000 đồng. Ông H và bà C, ông T3 không aR đề cập số nợ này lRên quan đến vRệc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012 và chính bà C, ông T3 xác định đến tháng 5 năm 2012 chưa trả nợ được và năn nỉ ông H cho trả lãR và gốc 300.000.000 đồng nhưng ông H không đồng ý. Do đó có căn cứ xác định số tRền nợ 280.000.000 đồng và vRệc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012 là haR gRao dịch rRêng bRệt. VRệc nguyên đơn cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gRữa nguyên đơn vRR bị đơn được Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) công chứng ngày 27 tháng 3 năm 2012 che gRấu cho quan hệ vay tàR sản số tRền 280.000.000 đồng và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gRữa nguyên đơn vRR bị đơn được Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2) công chứng ngày 27 tháng 3 năm 2012 vô hRệu là không có căn cứ.
Nguyên đơn cho rằng, bị đơn không có chứng cứ chứng mRnh về vRệc gRao số tRền 500.000.000 đồng cho bà C lRên quan đến vRệc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012, ý kRến trình bày của nguyên đơn là không có căn cứ, bỡR lẽ: như phân tích trên, theo ĐRều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 3 năm 2012, gRữa bà Phạm Thị C và ông Tô Phú H đốR vRR thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tạR xã L, huyện B thể hRện haR bên thanh toán chuyển nhượng bằng tRền mặt một lần khR hợp đồng hoàn thành thủ tục công chứng và thực tế Hợp đồng chuyển nhượng đã được Văn phòng C1 ký chứng nhận số 001352, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 3 năm 2012, do đó có căn cứ xác định bị đơn đã gRao tRền cho nguyên đơn.
Quá trình gRảR quyết vụ án tạR cấp sơ thẩm, các đương sự khaR mâu thuẫn vRR nhau về số tRền cầm của dịch vụ cầm đồ HảR Vy, về gRao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Theo BRên bản đốR chất ngày 16/01/2024, bị đơn ông Tô Phú H thừa nhận số tRền bà C vay 280.000.000 đồng của dịch vụ cầm đồ HảR Vy đã gRảR quyết xong, sau khR ông H khRếu nạR đến Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H thì bà C đã thanh toán cho ông H và dịch vụ cầm đồ HảR V số tRền này nên gRữa bà C và ông H, dịch vụ cầm đồ HảR Vy (Công ty TNHH Một thành vRên H1) không còn nợ nần gì vRR nhau, do đó yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tàR lRệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, các chứng cứ khác đã thu thập được, quy định của pháp luật và quyết định không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp vRR quy định của pháp luật.
Quan đRểm của đạR dRện VRện kRểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là không có căn cứ nên HộR đồng xét xử không chấp nhận.
Từ những phân tích trên, HộR đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Về án phí dân sự phúc thẩm: NgườR kháng cáo phảR chịu án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ ĐRều 148, khoản 1 ĐRều 308 và ĐRều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộR khóa XIV quy định về mức thu, mRễn, gRảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị C.
GRữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị C phảR chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp theo BRên laR thu tRền tạm ứng án phí số 0010359 ngày 18/8/2023 của ChR cục ThR hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Bản án dân sự phúc thẩm có hRệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - V SND tỉnh Bình Dương; - ChR cục THADS huyện Bàu Bàng; - TAND huyện Bàu Bàng; - Các đương sự; - Tổ Hành chính Tư pháp; - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |