- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - Phạm Đình A - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2023/HSST Ngày 19 tháng 4 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận
Ông Trần Ngọc Thịnh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tô Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Bà Lê Thị Nga - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2023/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đình A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Thôn 2, xã Q, huyện Q, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên bố: Phạm Đình T – sinh năm: 1962; Họ và tên mẹ: Hồ Thị M – Sinh năm: 1965; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/9/2022, tổ công tác Y14- 141 Công an thành phố Hà Nội trong khi làm nhiệm vụ tuần tra hóa trang trên địa bàn quận Hoàn Kiếm đã phát hiện Phạm Đình A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu trắng đen BKS 88L1- 403.80 tại lòng đường trước cửa số 19 Hai Bà Trưng, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, A đã xuất trình giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658; nghi giấy phép lái xe là giả nên tổ công tác đã bàn giao Phạm Đình A cùng tang vật cho Công an phường Tràng Tiền giải quyết.
Thu giữ của Phạm Đình A (BL34):
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658 mang tên PHẠM ĐÌNH A;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, số 023704 mang tên Khổng Văn Á;
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đen trắng, BKS 88L1- 403.80, số máy: KC26E1040146, số khung: 2640GY023375 đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 7522/KL-KTHS ngày 02/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định (BL37): “GIẤY PHÉP LÁI XE” hạng A1 số 400215098658; Họ và tên: Phạm Đình A; Ngày sinh: 23/4/1997; Nơi cư trú: X. Q, H. Q, T. N; Cấp ngày: 20/05/2021 là giấy phép lái xe giả.
Căn cứ Công văn số 3318 ngày 05/10/2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An xác định: Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An đã cấp Giấy phép lái xe cho ông Phạm Đình A, sinh ngày 23/4/1997; số CMND 187676831; nơi cư trú: xã Q, huyện Q, tỉnh N; số GPLX 400196024952 hạng A1; số phôi BE177605; cấp ngày 04/10/2019, có giá trị đến: Không thời hạn (BL41).
Căn cứ Công văn số 3411 ngày 12/10/2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An xác định: Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An đã cấp Giấy phép lái xe cho ông Phạm Đình A, sinh ngày 23/4/1997; số CMND 187676831; nơi cư trú: xã Q, huyện Q, tỉnh N; số GPLX 400196024952 hạng A1; số phôi BE177605; cấp ngày 04/10/2019, có giá trị đến: Không thời hạn. Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An không cấp số giấy phép lái xe 400215098658 cho ông Phạm Đình A.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đình A khai nhận: Khoảng tháng 4/2019, A đã tham gia thi và được Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp giấy phép lái xe hạng A1 số 400196024952. Quá trình sử dụng, A đã làm mất giấy phép lái xe trên. Khoảng tháng 11/2021, thông qua mạng xã hội Facebook, A thấy tài khoản “Trung tâm đào tạo số 10” có nhận làm giấy phép lái xe thật không cần học, không cần thi với giá 800.000 đồng. A đồng ý rồi gửi ảnh chân dung và căn cước công dân để làm giấy phép lái xe. Khoảng 01 tuần sau, có 01 người phụ nữ sử dụng số điện thoại 0984457333 giao cho A 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658 mang tên PHẠM ĐÌNH A tại đường Nguyễn Văn Cừ, quận Long Biên, Hà Nội. Còn A đưa cho người phụ nữ số tiền 800.000 đồng. A đã sử dụng giấy phép lái xe trên tham gia giao thông. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/9/2022, khi A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu trắng đen BKS 88L1- 403.80 đến trước cửa số 19 Hai Bà Trưng thì bị tổ công tác Y14- 141 Công an thành phố Hà Nội yêu cầu dừng xe kiểm tra. A đã xuất trình giấy phép lái xe và giấy tờ xe. Sau đó, A được đưa về Công an phường Tràng Tiền giải quyết. A không biết giấy phép lái xe số số 400215098658 là giấy phép lái xe giả. Chiếc xe máy là của A, mua của anh Khổng Văn Á với giá 26.000.000 đồng vào tháng 8/2021 làm phương tiện đi lại.
Như vậy, Phạm Đình A biết rõ quy trình, thủ tục cấp giấy phép lái xe do đã tham gia học, thi sát hạch và được Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp Giấy phép lái xe số 400196024952 hạng A1 ngày 04/10/2019. Sau khi bị mất giấy phép lái xe, A không làm hồ sơ xin cấp lại mà mua qua mạng xã hội facebook (chỉ gửi ảnh chân dung và căn cước công dân). Do vậy, Phạm Đình A buộc phải nhận thức được giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658 đã mua là giả, A đã sử dụng tham gia giao thông và xuất trình khi bị tổ công tác Y14- 141 Công an thành phố Hà Nội kiểm tra. Hành vi của Phạm Đình A đã cấu thành tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ lời khai của Phạm Đình A, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ thuê bao số điện thoại 0984457333 mang tên Nguyễn Thị H (Sinh ngày 03/02/1984; Địa chỉ: C– Q– B). Chị Nguyễn Thị H khai: Là nhân viên chăm sóc khách hàng chi nhánh Bưu chính Viettel Long Biên từ ngày 01/3/2020. Công việc chính là quản lý bưu phẩm, bưu kiện tồn, xác minh lại để bưu tá đi giao hoặc hoàn về bên gửi. Trường hợp khách hàng khiếu nại khẩn cấp có thể đi giao hàng hoặc giao đơn khách hẹn ra bưu cục nhận. Do yêu cầu bảo mật nên chị H không biết nội dung bên trong bưu kiện giao cho A là đồ vật, tài liệu gì nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu trắng đen BKS: 88L1-403.80, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký xe mang tên Khổng Văn Á (Sinh năm: 1995; Địa chỉ: xã C, huyện S, tỉnh V). Anh Khổng Văn Á khai đã bán chiếc xe máy BKS: 88L1-403.80 cho một người không quen biết tên A với giá 26.000.000 đồng phù hợp với lời khai của A. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 24/02/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023704 cho Phạm Đình A. A đã nhận lại tài sản và không có đề nghị khác.
Về đối tượng đã làm giấy phép lái xe giả cho Phạm Đình A, do A khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại; Cơ quan điều tra đã xác minh tại Bưu cục Viettel Post Gia Lâm 1 xác định không lưu giữ thông tin người gửi bưu kiện vì đã quá thời gian lưu trữ trên hệ thống nên không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 10/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Phạm Đình A về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà :
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Đình A về hành vi, tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đình A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
2. Điều luật và hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phạm Đình A mức án từ 8 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658 mang tên Phạm Đình A là giấy phép lái xe giả lưu hồ sơ vụ án.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an quận Hoàn Kiếm; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên quận Hoàn Kiếm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về định tội và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/9/2022, Phạm Đình A đã có hành vi sử dụng 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 400215098658 mang tên Phạm Đình A là giấy phép lái xe giả tham gia giao thông và xuất trình khi bị tổ công tác Y14- 141 Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính tại khu vực lòng đường trước cửa số 19 Hai Bà Trưng, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà Nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.
Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, tiền án tiền sự xét thấy bị cáo đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658 mang tên Phạm Đình A là giấy phép lái xe giả lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt: Phạm Đình A 08 ( tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
3. Về xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 400215098658 mang tên Phạm Đình A là giấy phép lái xe giả lưu hồ sơ vụ án.
4. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Q.Hoàn Kiếm; - Công an Q.Hoàn Kiếm; - Thi hành án Q.Hoàn Kiếm; - TAND.TP Hà Nội; - VKSND TP.Hà Nội; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phan Lan Hương |