vanban.org

Bản án 71/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lê Văn T và Lê Xuân V, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2023. Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân V: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T và Lê Xuân V trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Văn T và Lê Xuân V, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn M Hùng

2. Ông Lê Hữu Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Lê Văn T, sinh năm 1996; Tại: xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Nh, xã Th, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D và bà Lê Thị M; Có vợ là Lê Thị D và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 11/5/2023 đến ngày 20/5/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Lê Xuân V, sinh năm 2002; Tại: xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Th, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Sỹ L và bà Lương Thị Ph; Chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 11/5/2023 đến ngày 20/5/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Ch, xã H, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Quách Tuấn M - Sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn M, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 10/5/2023, Lê Văn T và Lê Xuân V đang chơi điện tử tại quán internet ở thôn Thị Tứ, xã Dân Lực thì T rủ V cùng đi trộm cắp tài sản, V đồng ý. T điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 36R6-0849 (của Nguyễn Anh T, sinh năm 1988, ở thôn 4, xã Thọ Tân, là anh rể của T) chở V đi theo hướng xã Dân Lực đi xã Hợp Thắng. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến thôn Châu Cương, xã Hợp Thắng, huyện Triệu Sơn, T quan sát thấy 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 36B4-227.84 của chị Nguyễn Thị H, đang dựng ngoài đường, trước cửa nhà bà Bùi Thị Lý (ở cùng thôn), xe đang cắm chìa khóa, không thấy người qua lại. T nói với V đang ngồi sau xe “ở đây vắng người, xe đang cắm sẵn chìa khóa, em xuống lấy xe đi”, V đồng ý, còn T ngồi trên xe cảnh giới. V đi bộ lại chỗ xe mô tô và lên xe nổ máy tẩu thoát. T điều khiển xe của mình về nhà, còn V đi xe mới trộm cắp về hướng xã Xuân Thọ. Đến khu vực cánh đồng xã Xuân Thọ, huyện Triệu Sơn, V dừng xe tháo giá sắt vứt ra đường (không nhớ rõ vị trí). Sau đó, cả hai gọi điện hẹn tại quán internet gần Công ty giày ADIANA, ở thôn Nhật Quả, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn và cả hai thống nhất để xe trộm cắp ở quán và đi về nhà ngủ. Sáng ngày 11/5/2023, T dùng điện thoại Iphone 6S màu xám đăng nhập Facebook tài khoản “T Lee” của mình nhắn tin đến tài khoản facebook “M Tuấn” của anh Quách Tuấn M, sinh năm 1989, ở thôn Minh Ba, xã Thành Tâm, huyện Thạch Thành để bán xe với giá 3.500.000đ. Khoảng 08 giờ cùng ngày, V và T mang xe đến thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định bán cho anh M, M sử dụng số tài khoản 105873819657 của ngân hàng Vietinbank chuyển khoản vào số tài khoản 0984433836 của ngân hàng MBBank của T số tiền 3.300.000đ và đưa 200.000đ tiền mặt cho T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 269 ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Triệu Sơn kết luận: Giá trị của xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng, BKS 36B4-227.84 là 9.000.000đ.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSTS ngày 19/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Văn T và Lê Xuân V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Lê Xuân V từ 09 tháng đến 12 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy quần áo dép; Tịch thu xung quỹ 01 điện thoại thu giữ của T, trả lại chiếc điện thoại cho V.

Lời nói sau cùng, các bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Triệu Sơn, Điều tra viên; Viện Kiểm sát huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T và Lê Xuân V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết quả định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Sau khi gặp nhau tại quán Internet, T rủ và chở V đi trộm cắp tài sản, đến khoảng 14 giờ 45 phút ngày 10/5/2023, khi đi đến thôn Châu Cương, xã Hợp Thắng, huyện Triệu Sơn, thấy 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 36B4-227.84, T bảo V xuống lấy xe. V đi bộ lại chỗ xe mô tô và lên xe nổ máy tẩu thoát. Sáng ngày 11/5/2023, T dùng điện thoại Iphone 6S đăng nhập Facebook tài khoản “T Lee” của mình nhắn tin đến tài khoản facebook “M Tuấn” của anh Quách Tuấn M để bán xe với giá 3.500.000đ. Khoảng 08 giờ cùng ngày, V và T mang xe đến thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa bán cho anh M, M sử dụng số tài khoản 105873819657 của ngân hàng Vietinbank chuyển khoản vào số tài khoản 0984433836 ngân hàng MB Bank của T số tiền 3.300.000đ và đưa 200.000đ tiền mặt cho T sau đó ra về. Chiếc xe mô tô các bị cáo trộm cắp có giá trị là 9.000.000đồng. Như vậy hành của các bị cáo Lê Văn T và Lê Xuân V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Quyền sở hữu tài sản luôn được pháp luật bảo vệ nhưng T và V đã không bỏ sức lao động chân chính để có được, lợi dụng việc vắng người và không có sự quản lý tài sản của chủ sở hữu nên đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 36B4-227.84 của chị H nhằm mục đích bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo là nguy hiểm, táo tợn, gây Hng mang tâm lý trong nhân dân và gây mất trật tự xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. T là người khởi xướng, chở V và là người liên hệ bán tài sản, còn V là người trực tiếp thực hiện. Nên mức hình phạt của T cao hơn V.

Theo xác minh của Công an xã Thọ Dân thì các bị cáo không nghề nghiệp ổn định, ham chơi, có khả năng và tiềm ẩn phạm tội.

[4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự kHn hồng của pháp luật.

Căn cứ vào nhân thân, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Nên cần xử cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 36B4-227.84 là của chị Nguyễn Thị H. Hiện nay Cơ quan CSĐT Công an huyện Triệu Sơn đã trả lại cho chị H và chị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên miễn xét.

Đối với số tiền 3.500.000đồng mà các bị cáo bán xe cho anh Quách Tuấn M. Hiện nay anh M đã nhận và không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, trắng có cổ; 01 quần bò màu đen; 01 đôi dép màu xám xanh thu giữ của Lê Văn T và 01 áo khoác bông màu xanh dương; 01 đôi dép tổ ong; 01 quần bò màu đen thu giữ của Lê Xuân V, đây là trang phục mặc trên người khi các bị cáo phạm tội. Xét thấy, hiện nay đã cũ và không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6S màu xám đen, có số IMEI 35948309298231 đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen, Model LDN-LX2 đã qua sử dụng, thu của T và V là phương tiện liên lạc khi đi trộm cắp và bán tài sản, nên cần tịch thu xung quỹ Nhà nước.

. Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố:

Bị cáo Lê Văn T và Lê Xuân V, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2023.

+ Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân V: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2023.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6S màu xám đen, có số IMEI 35948309298231 và 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen, Model LDN-LX2.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen, trắng có cổ; 01 quần bò màu đen; 01 đôi dép màu xám xanh thu giữ của Lê Văn T và 01 áo khoác bông màu xanh dương; 01 đôi dép tổ ong; 01 quần bò màu đen có đính nhiều hạt nhựa màu trắng ở phần đầu gối thu giữ của Lê Xuân V.

(Tất cả hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên bản giao nhận ngày 14/8/2023).

- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Lê Văn T và Lê Xuân V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, đối với T và V kể từ ngày tuyên án. Đối với chị H và anh M kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ