- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Thanh P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P 04 (bốn) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2023/HS-ST Ngày: 22-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Văn Be;
Ông Nguyễn Văn Vân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 14-7-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QXXST-HS ngày 10-8-2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh P, sinh năm 1993; tại Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; vợ con chưa có.
Tiền án: Bản án số 90/2014/HSST ngày 29/10/2014 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự (năm 1999) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 59/2016/HS-ST ngày 29/6/2016 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm o, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự (năm 1999) xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 05/4/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Bị hại: Chị Phạm Hồng H, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp Bình P, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Tống Thành Đ, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh ; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người làm chứng: Anh Trần Tấn P2, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp Xóm R, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2023, chị Phạm Hồng H, sinh năm 2000, thường trú tại ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang, tạm trú tại ấp Bình P, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vision, biển số 70C1-144.97 đi đến tiệm rửa xe “TĐ” thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh do anh Tống Thành Đ, sinh năm 1998, ngụ ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh làm chủ rửa xe, chị H gửi xe để rửa và đi bộ đến nơi làm việc khoảng 30 mét.
Đến khoảng hơn 12 giờ, sau khi anh Đ rửa xe mô tô biển số 70C1-144.97 xong thì đem xe để ở sân trước nhà kế bên tiệm rửa xe, đầu xe quay ra đường lộ, trên xe có gắn sẵn chìa khoá, sau đó anh quay lại tiệm rửa xe để làm việc. Đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, Huỳnh Thanh P lấy xe mô tô loại Sirius biển số 70C1-105.94 của ông Huỳnh Văn H1 là cha của Huỳnh Thanh P để đi tìm Trần Tấn P2, sinh năm 2000, ngụ ấp Xóm R, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, khi gặp P2 P rủ P2 đi tìm mua chất ma tuý để sử dụng, P2 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 70C1-105.94 chở P đi trên đường tỉnh lộ 781 từ xã T về hướng thành phố Tây Ninh để tìm mua chất ma tuý để sử dụng.
Khi đi đến khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, P nhìn thấy xe mô tô biển số 70C1-144.97 có gắn sẵn chìa khoá trên xe để ở trước sân nhà anh Tống Thành Đ và không có người trông coi lúc này P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên nên kêu P2 quay xe lại và chạy vào trong đường hẻm cặp nhà anh Tống Thành Đ, khi P2 chạy vô hẻm thì P kêu P2 chạy xe quay ra, P2 tiếp tục chạy ra đến đầu đường tỉnh lộ 781, P tiếp tục kêu P2 chạy vào hẻm, khi vào đường hẻm được khoảng 20 mét thì P kêu P2 dừng xe lại; P2 không hiểu ý bị cáo P kêu dừng xe để làm gì, P2 dừng xe lại thì P xuống xe đi bộ nhưng không nói cho P2 biết là P đi đâu làm gì.
Bị cáo P đi bộ đến vị trí để xe mô tô biển số 70C1-144.97 lén lút lấy xe đẩy bộ ra đến cổng nhà và khởi động xe chạy đến nơi P2 đứng, P kêu P2 chạy đi. Sau đó, P chạy xe mô tô biển số 70C1-144.97 đem về nhà cất giấu phía sau nhà của P, đợi tìm được người mua sẽ đem bán. Khoảng 45 phút sau, P2 chạy xe đến nhà P, P2 đứng ở ngoài đường chờ P và cùng P đến xã Phước Vinh mua chất ma tuý để dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 19/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 70C1-144.97 thời điểm định giá ngày 02/4/2023 có giá trị là 14.000.000 đồng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Huỳnh Thanh P thành khẩn khai báo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can Huỳnh Thanh P đã tái phạm chưa được xoá án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này của bị can P bị coi là tái phạm nguy hiểm nhưng là tình tiết định khung hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phạm Hồng H đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 70C1-144.97 và giấy tờ có liên quan, chị Phạm Hồng H không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn: xanh, biển số: 70C1-105.94; số máy: 5C6J010925, số khung: RLCS5C6J0DY010935 (đã qua sử dụng);
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 042984 của xe có biển số 70C1-105.94;
- 01 căn cước công dân số 072093004499, mang tên Huỳnh Thanh P.
Qua xác minh bị cáo Huỳnh Thanh P không có tài sản nên không kê biên.
Bản Cáo trạng số 60/CT-VKSCT ngày 13-7-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật, trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius cho ông Huỳnh Văn H1.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 02/4/2023, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Huỳnh Thanh P lén lút lấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 70C1-144.97 có giá trị là 14.000.000 đồng của chị Phạm Hồng H, sau đó bị P2 hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án số 90/2014/HSST ngày 29/10/2014 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Huỳnh Thanh P 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Ngày 29/6/2016 Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm o, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự (năm 1999) xử phạt Huỳnh Thanh P 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tính đến ngày 02/4/2023, bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ 01 xe mô tô biển số 70C1-105.94 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô chủ sở hữu ông Huỳnh Văn H1; ông Hùng không biết bị cáo sử dụng xe mình để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại xe cho chủ sở hữu.
+ 01 căn cước công dân số 072093004499 mang tên Huỳnh Thanh P là giấy tờ cá nhân nên trả lại cho bị cáo.
Đối với Trần Tấn P2 trong quá trình điều tra xác định có điều khiển xe mô tô chở bị cáo P đi ngày 02/4/2023 nhưng giữa P2 và bị cáo P khai không có bàn bạc, thoả thuận việc trộm cắp tài sản; P2 không biết rõ hành vi của P trộm cắp xe mô tô biển số 70C1-144.97 của chị Phạm Hồng H nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Trần Tấn P2 là có căn cứ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-4-2023.
2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Trả lại cho ông Huỳnh Văn H1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn: xanh, biển số: 70C1-105.94; số máy: 5C6J010925, số khung: RLCS5C6J0DY010935 (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 042984 của xe có biển số 70C1-105.94;
- Trả lại cho bị cáo: 01 căn cước công dân số 072093004499, mang tên Huỳnh Thanh P.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho các bên biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Châu Thành; - Công an huyện Châu Thành; - CQTHAHS – Công an huyện Châu Thành; - Chi cục THA Dân sự huyện Châu Thành; - Bị cáo và những người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hồng Thảo Nguyên |