- Tranh chấp gì? án hình sự — "H phạm tội Cố ý gây thương tích 8% - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 1 điều 145; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2023/HS-ST Ngày 31- 8- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA Á N NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt D.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Văn T - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
+ Ông Hà Mạnh L- Nghề nghiệp: Bí thư đoàn thanh niên
Nơi công tác: Đoàn thanh niên thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm V - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc H - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ. Toà án nhân dân huyện C đưa ra xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16 tháng 5 năm 2002 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đồng T, sinh năm 1971; Con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/6/2023 đến nay. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (có mặt tại phiên toà).
Bị hại: Cháu Phạm Thị PH T, sinh ngày 16/3/2010
Địa chỉ: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật cho cháu T:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại T: Bà Bùi Thu H- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C nhận được tố giác của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 ở khu 8, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ có nội dung: tố cáo Nguyễn Quốc H, sinh năm 2002 ở khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ có hành vi quan hệ tình dục với con gái của chị H là cháu Phạm Thị PH T, sinh ngày 16/3/2010 ở khu 8, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ tại nhà của H vào ngày 01/5/2023.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã làm rõ:
Do có quan hệ yêu đương với nhau nên vào chiều ngày 01/5/2023, Nguyễn Quốc H sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook của mình là “H Quốc N” nhắn tin qua ứng dụng “Messenger” đến tài khoản mạng xã hội Facebook “Thùy T” của cháu Phạm Thị PH T rủ cháu T đến nhà H chơi, cháu T đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô một mình đi đến nhà cháu T và chờ cháu T ở gần cổng nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, cháu T đi ra cổng gặp H. Sau đó, H chở cháu T đi theo hướng đi huyện C. Khi về đến nhà H, có bố mẹ đẻ của H là anh Nguyễn Đồng T, sinh năm 1971 và chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977 ở nhà. Khoảng 22 giờ cùng ngày, bố mẹ đẻ H đi ngủ, H đi xuống phòng ngủ của H ở nhà dưới, cạnh gian bếp thì cháu T cũng đi theo H. Khi xuống đến phòng ngủ, cháu T nằm lên giường của H ở phía trong giáp tường, H nằm bên ngoài cháu T. Lúc này, H nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu T nên dùng hai tay ôm lấy người cháu T, đồng thời H và cháu T hôn nhau nhiều cái, rồi H dùng tay phải của mình đưa vào trong áo cháu T và xờ xoạng hai vú của cháu T. Sau đó, H dùng tay cởi quần đùi, quần sịp H đang mặc và cởi quần bò, quần lót của cháu T ra khỏi hai chân cháu T. H tiếp tục dùng tay phải xờ xoạng phía ngoài âm đạo của cháu T, rồi dùng ngón giữa bàn tay phải đưa vào bên trong âm đạo cháu T khoảng 02 phút. Sau đó, H dùng tay phải đưa dương vật đã cương cứng của mình vào bên trong âm đạo cháu T để quan hệ tình dục. Quan hệ tình dục được khoảng 10 phút thì T nói là đau nên H rút dương vật của mình ra sau đó xuất tinh ra mành cọ đang nằm. H lấy 01 (một) áo phông cộc tay màu đen của H lau phần tinh dịch đã xuất ra mành cọ. Sau đó, H và cháu T tự mặc quần của mình rồi đi ngủ. (H và cháu T không quan hệ tình dục với nhau thêm lần nào khác.) Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 02/5/2023, H và cháu T ngủ dậy sau đó cháu T mượn điện thoại di động của H liên hệ với gia đình cháu T đến đón. Gia đình cháu T đã đưa cháu T đi khám tại Phòng khám đa khoa chất lượng cao 103 tại thị trấn C, huyện C, kết quả: âm hộ có vết trợt, viêm đỏ. Đến ngày 05/5/2023, chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1986 (là mẹ đẻ cháu T) đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C trình báo sự việc như đã nêu trên.
Ngày 05/5/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 109 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ giám định: Tổn tH bộ phận sinh dục của cháu Phạm Thị PH T? Bộ phận sinh dục của cháu Phạm Thị PH T có tinh trùng, xác tinh trùng không? Kiểm tra dấu vết thân thể của cháu Phạm Thị PH T?
Tại Kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 10/TDTE/2023 ngày 09/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận:
- Tổn tH bộ phận sinh dục của cháu Phạm Thị PH T tại thời điểm giám định là: màng trinh rách mới ở điểm 03 giờ, 05 giờ. Điểm 03 giờ rách rạn, điểm 05 giờ rách gần sát gốc màng trinh, bờ mép vết rách phù nề có dải rác các nốt xuất huyết. Gốc màng trinh từ điểm 03 giờ đến 08 xung huyết đậm.
- Tại thời điểm giám định trên cơ thể của cháu Phạm Thị PH T không có dấu vết tH tích gì.
- Trong dịch xung quanh âm hộ, âm đạo của cháu Phạm Thị PH T: Không có hình ảnh tinh trùng và xác tinh trùng.
Ngày 05/5/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 110 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ giám định: Cơ quan sinh dục của Nguyễn Quốc H có phát triển bình thường không? Có khả năng quan hệ tình dục không? H có nhiễm HIV không? Trên cơ thể của Nguyễn Quốc H có tH tích gì không? Nếu có thì tỷ lệ tổn tH cơ thể Nguyễn Quốc H là bao nhiêu?
Tại Kết luận giám định khả năng tình dục nam số 10/KLKNTD/TTPY ngày 12/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận:
- Cơ quan sinh dục của anh Nguyễn Quốc H đầy đủ bộ phận, phát triển bình thường, đủ điều kiện để thực hiện giao hợp khi dương vật cương cứng.
- Anh Nguyễn Quốc H không bị nhiễm Virut HIV.
- Tại thời điểm giám định trên cơ thể của anh Nguyễn Quốc H không có dấu vết tH tích gì.
Về đồ vật, tài liệu tạm giữ:
Quá trình xác định hiện trường ngày 05/5/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã tạm giữ: 01 (một) quần đùi màu đen, viền đỏ; 01 (một) quần dài vải màu đen có chữ Nexking; 01 (một) áo dài tay màu đen; 01 (một) chăn màu tím hồng họa tiết bông hoa; 01 (một) chăn màu ghi xám có nhiều vết thủng; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) vỏ chăn có kẻ ca-rô; 01 (một) chăn có họa tiết hoa, nền màu vàng, cam; 01 (một) gối màu đỏ thêu hoa, bên trong có lõi bông; 01 (một) mành cọ, đã cũ. Sử dụng test phát hiện dấu vết tinh dịch PSA-card để kiểm tra trên mành cọ, kết quả: Không phát hiện dấu vết tinh dịch.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C tạm giữ của Nguyễn Quốc H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, số IMEI1: 869945061383630, số IMEI2: 869945061383622, đã cũ, lắp 01 sim.
Ngày 06/5/2023, Nguyễn Quốc H tự nguyện giao nộp: 01 (một) áo phông cộc tay màu đen; 01 (một) quần đùi màu xám; 01 (một) áo phông màu trắng xám, cộc tay.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc H đã khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo như vậy là hoàn toàn đúng. Bị cáo và Phạm Thị PH T có quan hệ tình cảm yêu đương nên vào khoảng 19 giờ ngày 01/5/2023 bị cáo có đến nhà T để đón T đến nhà bị cáo chơi. Giữa bị cáo và T mới quan hệ tình dục 1 lần duy nhất vào đêm ngày 01/5/2023. Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp. Bị cáo không có tài sản gì.
Người đại diện cho bị hại bà Nguyễn Thị H có quan điểm: Nhất trí như nội dung bản cáo trạng truy tố. Bị hại và đại diện cho bị hại không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thêm khoản gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 51/CT -VKSCK ngày 05/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điều 145; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Nguyễn Quốc H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù nH cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 31/8/2023.
Giao bị cáo H cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xác nhận ngày 24/5/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại các tài sản sau cho bị cáo: 01 (một) quần đùi màu đen, viền đỏ; 01 (một) quần dài vải màu đen có chữ Nexking; 01 (một) áo dài tay màu đen; 01 (một) chăn màu tím hồng họa tiết bông hoa; 01 (một) chăn màu ghi xám có nhiều vết thủng; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) vỏ chăn có kẻ ca-rô; 01 (một) chăn có họa tiết hoa, nền màu vàng, cam; 01 (một) gối màu đỏ thêu hoa, bên trong có lõi bông.
Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, số IMEI1: 869945061383630, số IMEI2: 869945061383622, đã cũ, lắp 01 sim.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mành cọ, đã cũ; 01 (một) áo phông cộc tay màu đen; 01 (một) quần đùi màu xám và 01 (một) áo phông màu trắng xám, cộc tay (Theo biên bản giao nhận vật chứng nhận vật chứng ngày 07/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C)
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ Luật hình sự; khoản 1 Điều 136; Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Quốc H cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị PH T số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng) trong quá trình điều tra và gia đình của cháu Phạm Thị PH T đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu gì thêm. Tại phiên Toà người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Thị PH T là bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ cháu T) không đề nghị bồi thường gì thêm nên cần xác nhận.
[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị hại: Bà Bùi Thu H - Trợ Giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ trình bày:
1. Về tội danh: Bản Cáo trạng số 51/2023/CT-VKSCK của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, truy tố bị cáo H về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự, là đúng người đúng tội. Không có ý kiến gì.
2. Về trách nhiệm hình sự: Hành vi của Nguyễn Quốc H đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm, sinh lý của cháu T. Mặt khác tại thời điểm bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với cháu T khi cháu chưa đủ 16 tuổi, độ tuổi còn chưa phát triển đầy đủ về mặt tâm sinh lý và sức khỏe, nhất là sức khỏe sinh sản gây nguy hiểm cho sức khỏe của cháu T. Tuy nhiên sự việc xảy ra là do H và cháu T có quan hệ yêu đương, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và đại diện của bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo H, bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ nên đề nghị HĐXX xử, xử phạt bị cáo hình phạt là tù cho hưởng án treo cũng đủ răn đe đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Do hai bên gia đình đã thỏa thuận được số tiền bồi thường nên không có ý kiến gì thêm.
Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên một Bản án đúng quy định pháp luật đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nH cũng đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
Không ai có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
[2]. Về đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Khoảng 22 giờ ngày 01/5/2023, tại giường trong phòng ngủ của Nguyễn Quốc H ở nhà H thuộc khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quốc H, sinh năm 2002 đã có hành vi giao cấu đối với cháu Phạm Thị PH T, sinh ngày 16/3/2010 (khi cháu T mới được 13 tuổi 01 tháng 15 ngày). Khi H thực hiện hành vi giao cấu với cháu T, cháu T đã quá 13 tuổi nH chưa đủ 16 tuổi. Đồng thời, H đã quá 18 tuổi nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm của mình. Nguyễn Quốc H thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp mà không có đồng phạm.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Quốc H đã xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của cháu Phạm Thị PH T, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa và an ninh trật tự địa pH
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 điều 145 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội danh cũng như điều luật là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi của bị cáo Nguyễn Quốc H là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của người chưa thành niên trong độ tuổi đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật hình sự. Do đó, hành vi này cần phải được xét xử nghiêm minh. Bị cáo là thanh niên còn trẻ, có điều kiện hiểu biết xã hội nH thiếu hiểu biết về pháp luật chỉ vì yêu đương phát sinh tình cảm nam, nữ nên dẫn đến hành vi phạm tội.
Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả của tội phạm; Bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ áp dụng hình phạt tù nH cho hưởng án treo, đồng thời ấn định cho bị cáo một thời gian thử thách nhất định, cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và cũng thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 điều 145 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng, đang sống chung với bố mẹ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) quần đùi màu đen, viền đỏ; 01 (một) quần dài vải màu đen có chữ Nexking; 01 (một) áo dài tay màu đen; 01 (một) chăn màu tím hồng họa tiết bông hoa; 01 (một) chăn màu ghi xám có nhiều vết thủng; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) vỏ chăn có kẻ ca-rô; 01 (một) chăn có họa tiết hoa, nền màu vàng, cam; 01 (một) gối màu đỏ thêu hoa, bên trong có lõi bông là tài sản của bị cáo H, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo H là phù hợp nên cần xác nhận.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, số IMEI1: 869945061383630, số IMEI2: 869945061383622, đã cũ, lắp 01 sim là tài sản của Nguyễn Quốc H nên cần trả lại cho bị cáo H là phù hợp.
Đối với 01 (một) áo phông cộc tay màu đen; 01 (một) quần đùi màu xám và 01 (một) áo phông màu trắng xám, cộc tay; 01 (một) mành cọ, đã cũ là tài sản của bị cáo H có giá trị không lớn bị cáo H không đề nghị nhận lại những tài sản trên nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ Luật hình sự; khoản 1 Điều 136; Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Quốc H cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị PH T số tiền 80.000.000 đồng trong quá trình điều tra, gia đình cháu Phạm Thị PH T đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu gì thêm. Tại phiên Toà người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Thị PH T là bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ cháu T) không đề nghị bồi thường gì thêm nên cần xác nhận.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 điều 145; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 15 (Mười lăm) tháng tù nH cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 31/8/2023.
Giao bị cáo H cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Xác nhận ngày 24/5/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại các tài sản sau cho bị cáo: 01 (một) quần đùi màu đen, viền đỏ; 01 (một) quần dài vải màu đen có chữ Nexking; 01 (một) áo dài tay màu đen; 01 (một) chăn màu tím hồng họa tiết bông hoa; 01 (một) chăn màu ghi xám có nhiều vết thủng; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) vỏ chăn có kẻ ca-rô; 01 (một) chăn có họa tiết hoa, nền màu vàng, cam; 01 (một) gối màu đỏ thêu hoa, bên trong có lõi bông.
Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, số IMEI1: 869945061383630, số IMEI2: 869945061383622, đã cũ, lắp 01 sim.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mành cọ, đã cũ; 01 (một) áo phông cộc tay màu đen; 01 (một) quần đùi màu xám và 01 (một) áo phông màu trắng xám, cộc tay (Theo biên bản giao nhận vật chứng nhận vật chứng ngày 07/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C)
[3] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ Luật hình sự; khoản 1 Điều 136, Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Quốc H đã tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị PH T, gia đình của cháu T nhận đủ số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng), không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị cáo, Người đại diện theo pháp luật của bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện C; - Cơ quan THAHS huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã P, huyện C - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HS+VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Việt D |