- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-5-2023 Về tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Danh
2. Ông Nguyễn Văn Ấn
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Văn K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
(chị Lê Thị T, anh Nguyễn Văn K có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 20/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh K tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới, có đăng lý kết hôn vào ngày 14/02/2005 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân từ đó cho đến nay, nay không còn tình cảm, chị yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Lê K A, sinh ngày 03/9/2005 và Nguyễn Lê Q T, sinh ngày 19/02/2014. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu An và anh K nuôi dưỡng cháu Thịnh. Về cấp dưỡng nuôi con: chưa yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh K không tham dự phiên hòa giải, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không kiến nghị gì về tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: Về hôn nhân: cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng K. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Lê K A, sinh ngày 03/9/2005 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên Nguyễn Lê Q T, sinh ngày 19/02/2014 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T chưa yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: chị T và anh K có đơn xin xét xử mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về hôn nhân: Chị T và anh K kết hôn năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của chị: Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân từ đó cho đến nay. Về phía anh K, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh không gửi văn bản trình bày ý kiến, anh có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc này cho thấy, anh không quan tâm hàn gắn tình cảm với chị T và mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra những mâu thuẫn như chị T trình bày. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn với anh K là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Lê K A, sinh ngày 03/9/2005 và Nguyễn Lê Q T, sinh ngày 19/02/2014. Xét yêu cầu của chị T được tiếp tục nuôi cháu A và giao cháu T cho anh K nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu A hiện đang sống cùng chị và có nguyện vọng muốn sống cùng chị, cháu T hiện đang sống cùng anh K và có nguyện vọng muốn sống cùng anh, để ổn định về mọi mặt cũng như phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu của chị T là có căn cứ để chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét; anh K chưa có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.
1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
2. Về nuôi con chung:
- Giao con chung tên Nguyễn Lê K A, sinh ngày 03/9/2005 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Giao con chung tên Nguyễn Lê Q T, sinh ngày 19/02/2014 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị T, anh K chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Chị T, anh K được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; các thành viên gia đình không được ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008333 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Chị T đã nộp xong án phí. Anh K không phải nộp án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị T, anh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.Tân Phú Đông; - CC.THADS H.huyện Tân Phú Đông; - UBND xã T, H.Tân Phú Đông; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |