vanban.org

Bản án 71/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Ông Thiên Duy H được ly hôn với bà Trần Thị D. Về con chung: Ông Thiên Duy H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung là cháu Thiên Trần Bảo D1–sinh ngày 31/3/2016. Bà Trần Thị D không pH cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2023
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh.

2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền–Kiểm sát viên.

Ngày 28/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 381/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02/12/2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 14/7/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ông Thiên Duy H –sinh năm:1992 (có mặt)

-Bị đơn: Bà Trần Thị D –sinh năm: 1987 (vắng mặt) Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Thiên Duy H trình bày: Ông và bà Trần Thị D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015 và có chung 01 người con tên Thiên Trần Bảo D1–sinh ngày 31/3/2016. Đến năm 2018, ông và bà D mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Vợ chồng hay đi làm ăn xa đến năm 2018, ông và bà D mới về sống tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình vợ chồng chung sống không hợp nhau, hay xảy ra cải vả do bất đồng quan điểm sống. Từ cuối năm 2018 thì bà D tự ý bỏ đi đâu không rõ, không quan tâm đến chồng con, thỉnh thoảng bà D có về thăm con được 1-2 ngày rồi lại đi tiếp. Trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân thì con sống cùng với ông tại thôn Phú Nhuận, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bà D. Khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn bà Trần Thị D: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.

Chính quyền địa phương thôn Phú Nhuận, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông H và bà D sinh sống xác nhận: Ông H và bà D là người có hộ khẩu thường trú tại tại thôn P-P-N. Vợ chồng ông H, bà D không còn chung sống với nhau từ nhiều năm nay. Ông H đang nuôi con tại địa phương, còn bà D đi đâu không rõ, không có mặt ở địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân ông Thiên Duy H được ly hôn với bà Trần Thị D. Về con chung có 01 người con nên giao cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng, bà D không cấp dưỡng nuôi con chung do ông H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí ông H pH chịu theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Ông Thiên Duy H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn bà Trần Thị D, yêu cầu được nuôi dưỡng con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đối với bị đơn bà Trần Thị D vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Thiên Duy H và bà Trần Thị D tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 109 ngày 10/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm nhau.

Xét hôn nhân giữa ông H và bà D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.

Về con chung: Có 01 người con tên Thiên Trần Bảo D1–sinh ngày 31/3/2016. Hiện con đang sống cùng với ông H. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử bà D vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của ông H, từ khi vợ chồng sống ly thân chính ông H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con.

Xét thấy, hiện con đang sống cùng với ông H và ông H chăm sóc con tốt, bà D bỏ đi không quan tâm đến con và cũng không chu cấp tiền nuôi con. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D không pH cấp dưỡng nuôi con do ông H không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Ông H pH chịu án phí 300.000đ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.Về hôn nhân: Ông Thiên Duy H được ly hôn với bà Trần Thị D.

2.Về con chung: Ông Thiên Duy H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung là cháu Thiên Trần Bảo D1–sinh ngày 31/3/2016. Bà Trần Thị D không pH cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4.Về án phí: Ông Thiên Duy H pH chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002826 ngày 02/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Ông Thiên Duy H đã nộp đủ án phí.

5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ