vanban.org

Bản án 71/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A.

Về con chung: Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002, đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về chia tài sản: chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH TÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 8 - 2023
V/v tranh chấp “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Ánh 2. Ông Trần Ngọc Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Danh - Kiểm sát viên. Ngày 03 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023; về tranh chấp: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXX-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị B, sinh năm 1980. Địa chỉ: 1, đường T, phường A, quận B, TP . (xin vắng mặt). 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh A, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2023 nguyên đơn chị Cao Thị B trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh A tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 19/11/2002 tại UBND xã T, huyện B (huyện B cũ), tỉnh Vĩnh Long. Có 01 con chung tên Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002, đã trưởng thành. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Thanh A; Về con chung: Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002, đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/6/2023 bị đơn anh Nguyễn Thanh A trình bày: Anh và chị Cao Thị B kết hôn vào năm 2002, hôn nhân do quen biết, được gia đình hai bên chấp thuận tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới, vợ chồng anh về sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; có một con chung tên Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002 hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng. Thời gian sống chung anh và chị B không có tài sản chung; không nợ ai và cũng không ai nợ anh chị. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, anh làm ăn thất bại dẫn đến nợ nần. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Bản thân anh đã cố gắng thay đổi nhưng cuộc sống vợ chồng vẫn không hòa hợp, ly thân từ khoảng năm 2007 đến nay. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, anh đồng ý ly hôn với chị Cao Thị B; Về con chung: Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

- Tại phiên tòa: Anh A đồng ý ly hôn chị B; con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; tài sản chung và nợ chung không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị B được ly hôn anh Nguyễn Thanh A. Về con chung: Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002, đã trưởng thành; Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí buộc chị B phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Cao Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thanh A, anh A có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Cao Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị B.

Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị B là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Anh chị không còn sống chung từ năm 2007 đến nay; từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị B xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh A, chị yêu cầu được ly hôn; anh A đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được ly hôn anh A là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002, đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: Chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Cao Thị B phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A.

2. Về con chung: Nguyễn Vi K, sinh ngày 15/9/2002, đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản: chị Cao Thị B và anh Nguyễn Thanh A không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Cao Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị B nộp theo biên lai thu số 0003002 ngày 08/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị B đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ