vanban.org

Bản án 71/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “Ly hôn” với ông Đoàn Văn Nhân E , xử cho Bà T và ông Nhân E được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao cháu Đoàn Nhật K , sinh ngày 25/10/2019 và Đoàn Vĩnh K , sinh ngày 17/02/2011 cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, ông Nhân E không phải cấp dưỡng nuôi con. “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “Ly hôn” với ông Đoàn Văn Nhân E , xử cho Bà T và ông Nhân E được ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19/9/2023.
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Lê Thị Sáu.

2. Ông: Phạm Đức Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà-Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 136/TLHNGĐ-ST ngày 19/6/2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/ QĐHNGĐ-ST ngày 31/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T , sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú thôn 10c, xã Lộc T , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên lạc: 71a/4 ấp Nhân Hòa, xã T , huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; số điện thoại xxx xxx xxxx.

2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn Nhân E , sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 10C, xã Lộc T , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà T có đơn vắng mặt, ông Nhân E vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn khởi kiện ngày 29/5/2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Nhân E có tìm hiểu yêu nhau được 02 năm thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc T , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ngày 14/12/2009. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì. Quá trình chung sống ông Nhân E không lo làm ăn mà thường xuyên ăn chơi, hút chích, cờ bạc, đá gà, đánh bài, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng ly thân từ năm 2022, tình cảm và chồng không còn nên Bà T yêu cầu được ly hôn với ông Nhân E .

- Về con chung: Vợ chồng 02 con chung gồm cháu Đoàn Nhật K , sinh ngày 25/10/2019 và Đoàn Vĩnh K , sinh ngày 17/02/2011. Ly hôn Bà T có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu ông Nhân E cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án ông Nhân E không đến Tòa án làm việc, không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Bà T .

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho Bà T và ông Nhân E được ly hôn với nhau; giao con cho Bà T nuôi dưỡng, ông Nhân E không phải cấp dưỡng nuôi con và buộc Bà T phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng: Bà T có đơn đề nghị vắng mặt, ông Nhân E vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

2. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Nhân E có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc T , huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ngày 14/12/2009; hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.

Tòa án triệu tập ông Nhân E nhiều lần nhưng ông không đến làm việc hay có bất kỳ lời khai nào. Điều này cho thấy ông Nhân E bỏ mặc hôn nhân của mình, không muốn sống chung với Bà T nữa. Qua xác minh tại địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc ông Nhân E thường chơi cờ bạc, hút chích ma túy và hay bỏ nhà đi, không lo làm ăn, vợ chồng đã ly thân. Điều này cho thấy hôn nhân của Bà T và ông Nhân E đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 cần chấp xử cho Bà T và ông Nhân E được ly hôn với nhau.

Về con chung: Việc giao con cho ai cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con. Xét thấy trong thời gia ly thân, Bà T là người trực tiếp nuôi con, các con phát triển khỏe mạnh nên cần tiếp tục giao con cho Bà T nuôi dưỡng. Do Bà T không yêu cầu ông Nhân E cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “Ly hôn” với ông Đoàn Văn Nhân E , xử cho Bà T và ông Nhân E được ly hôn với nhau.

2. Về con chung: Giao cháu Đoàn Nhật K , sinh ngày 25/10/2019 và Đoàn Vĩnh K , sinh ngày 17/02/2011 cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, ông Nhân E không phải cấp dưỡng nuôi con.

“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, chăm sóc con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.”

3. Về án phí: Buộc Bà T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 12886 ngày 19/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (Bà T đã nộp xong).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ