- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thuý V- Phạm Cao S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thuý V.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20/4/2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự Soái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Mậu Thảo;
2. Ông Nguyễn Kim Đình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mạc Văn Hinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh, Kiểm sát viên.
Hồi 07 giờ 30 phút ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 363/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/HPT-QĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thuý V, sinh năm 1999
Địa chỉ: thôn M, xã H huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Cao S, sinh năm 1992
Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời khai của đương sự, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thuý V và ông Phạm Cao S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
Trong quá trình chung sống vợ chồng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là ông S không có trách nhiệm với gia đình, chơi bời lâm vào tệ nạn sử dụng chất gây nghiện và thường xuyên dùng bạo lực đánh đập bà V, vợ chồng đã ly thân không còn chung sống từ tháng 12 năm 2022 đến nay.
Nay bà V xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, hạnh phúc gia đình không có, tình cảm cũng không còn nên không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông S được nữa nên bà V làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Cao S.
2. Về con chung: Bà V khai vợ chồng có 01 con chung là Phạm Duy A, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2018.
Hiện cháu A đang ở với ông bà nội và ông S nên bà V đề nghị giao con cho ông S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Phạm Cao S có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam nhưng không hợp tác theo giấy triệu tập của Tòa án. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo công khai chứng cứ; Thông báo về các phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để giải quyết, xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đúng quy định pháp luật.
Đối với nguyên đơn bà Trần Thị Thuý V đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 186, 188, 189 và 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn ông Phạm Cao S trong quá trình giải quyết vụ án không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 và 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, ông S vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
- Về quan hệ hôn nhân: Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng bà V và ông S đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, xử cho bà V được ly hôn với ông S.
- Về quan hệ con chung: Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định cho con, đề nghị Hội đồng xét xử giao con là Phạm Duy A cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật. Ông S có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Thuý V là nguyên đơn trong vụ án, do bận công việc nên không thể trực tiếp đến Toà án tham gia giải quyết, xét xử theo yêu cầu của Toà án, bà V có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng bà V là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Cao S đã cố tình trốn tránh, không hợp tác làm việc với Tòa và Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, ông S vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp với quy định pháp luật.
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thuý V và ông Phạm Cao S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ theo Trích lục kết hôn số 147/TLKH-BS ngày 04 tháng 6 năm 2020. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận.
Sau khi xác lập quan hệ hôn nhân, trong quá trình chung sống vợ chồng đến năm năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Bà V cho rằng ông S không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, chơi bời lâm vào tệ nạn sử dụng chất kích thích và thường xuyên dùng bạo lực đánh đập bà V. Thực tế mâu thuẫn xảy ra vợ chồng ly thân không còn chung sống nhau từ tháng 12 năm 2022 đến nay, mặc dù bà V có liên hệ ông Sinh đến Toà án để giải quyết ly hôn theo quy định pháp luật, nhưng ông S cũng không đến Toà để hoà giải mâu thuẫn vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng giữa bà V và ông S có 01 con chung tên Phạm Duy A, bà V cho rằng hiện cháu A đang sống cùng ông bà nội và ông S nên bà V đề nghị giao cháu A cho ông S chăm sóc nuôi dưỡng. Trường hợp này Hội đồng xét xử xét thấy, hiện ông Phạm Cao S không có mặt ở địa phương, không biết đi đâu, làm gì và không đến Toà giải quyết vụ án ly hôn để trình bày nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho con; hiện cháu A chỉ hơn 04 tuổi nên cần sự chăm sóc, giáo dục của cha hoặc mẹ trong trường hợp ly hôn. Xét thấy việc giao con cho ông S nuôi dưỡng là không đảm bảo cho sự phát triển của con cũng như không đảm bảo theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình cần giao cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.
Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu ông S đóng góp nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thuý V.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thuý V được ly hôn với ông Phạm Cao S.
2. Về con chung: Giao con chung là Phạm Duy A, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2018 cho bà Trần Thị Thuý V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Bà V không yêu cầu ông S đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: (Không yêu cầu giải quyết).
4. Về án phí: Bà Trần Thị Thuý V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu 0004075 ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Bà V đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Thuý V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Phạm Cao S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Tự Soái |