- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hụi Lâm Thị Cẩm L - Hồ Thị B"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71 /2023/ DS - ST Ngày: 25-7-2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phương Thanh
2. Ông Lê Minh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà:
không tham gia
Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2022/ TLST – DS, ngày 26 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Cẩm L, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Bà Hồ Thị B, sinh năm 1939 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 15/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lâm Thị Cẩm L trình bày: Vào 01/01/2021 bà Hồ Thị B có tham gia dây hụi tháng, hụi 1.000.000đ (Một triệu đồng), do chị làm đầu thảo hụi, dây hụi có 20 hụi viên. Bà B hốt hụi lần thứ 4, chị đã giao hụi đủ cho bà B. Khi giao hụi cho bà B, do bà B không biết chữ nên con gái của bà là chị Hồ Thị H là người ký tên nhận thay cho bà B.
Từ sau khi hốt hụi đến nay bà B không có đóng chụi chết cho chị, chị đã đứng ra đóng hụi chết mỗi tháng 1.000.000đ cho bà B cho đến khi hụi mãn, tổng cộng là 16 lần.
Sau khi chị nộp đơn khởi kiện tại Tòa án thì bà B có trả cho chị được số tiền 1.500.000đ.
Nay chị yêu cầu bà Hồ Thị B trả cho bà số tiền hụi còn nợ lại là 14.500.000đ
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Hồ Thị B trình bày: Bà thừa nhận có tham gia hụi tháng do chị Lâm Thị Cẩm L làm đầu thảo, hụi 1.000.000đ mở ngày 01/01/2021, có 20 hụi viên. Bà tham gia một phần, tham gia được 02 tháng thì bà giao lại cho con gái bà là chị Hồ Thị H tham gia dây hụi này vì bà đã lớn tuổi, sức khoẻ yếu nên không tiếp tục chơi hụi được. Chị H là người hốt hụi của chị L, chị L giao tiền cho chị H, không có giao tiền cho bà, cũng không có mặt bà lúc giao tiền. Hiện nay chị H đi làm ở đâu bà cũng không biết. Bà không đồng ý yêu cầu của chị L. Tại phiên tòa hôm nay bà B vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lâm Thị Cẩm L khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị B trả số tiền hụi còn nợ là 14.500.000đ. Quá trình giải quyết, xét chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp về họ, hụi, biêu, phường” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Bà Hồ Thị B có địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Hồ Thị B vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với đương sự trên
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Trong quá trình giải quyết vụ án bà B thừa nhận bà có tham gia hụi tháng do chị Lâm Thị Cẩm L làm đầu thảo, hụi 1.000.000đ mở ngày 01/01/2021, có 20 hụi viên. Bà tham gia một phần. Căn cứ Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tòa án công nhận là sự thật.
Việc bà B cho rằng bà chỉ tham gia góp hụi có 02 lần sau đó bà chuyển lại cho con gái bà là Hồ Thị H tham gia, chị H là người hốt hụi, việc giao nhận tiền giữa chị L với chị H thì bà không biết. Xét Tại bản cam kết về việc giao tiền hụi thể hiện có mặt bà B nhưng do bà B không biết chữ nên con gái là chị H nhận thay và đã nhận đủ tiền. Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã Thông báo yêu cầu bà B cung cấp địa chỉ cư trú của chị H nhiều lần nhưng phía bà B không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án. Hơn nữa nếu có việc chuyển giao giữa bà B cho chị H thì phải có sự đồng ý của chị L trong khi đó chị L không thừa nhận và bà B không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh việc chị H là người trực tiếp tham gia hụi do chị L làm đầu thảo. Mặt khác sau khi tòa án thụ lý vụ án thì phía bị đơn có trả cho nguyên đơn được số tiền 1.500.000đ. Do đó việc nại ra của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Do phía nguyên đơn (chủ hụi) đã nộp thay phần hụi cho bị đơn từ khi hốt hụi cho đến khi mãn hụi
Tại Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường quy định:
“Điều 24. Trách nhiệm của thành viên không góp phần họ
Trường hợp đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì thành viên đó có trách nhiệm đối với chủ họ như sau:
1. Hoàn trả số tiền mà chủ họ đã góp thay cho thành viên.
2…”
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Cẩm L. Buộc bà Hồ Thị B có trách nhiệm trả cho chị Lâm Thị Cẩm L số tiền hụi còn nợ tổng cộng là 14.500.000đ
Về án phí: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Hồ Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 5% x 14.500.000đ = 725.000đ. Bà B là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nhưng bà không làm đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về nội dung:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Cẩm L
Buộc bà Hồ Thị B có trách nhiệm trả cho chị Lâm Thị Cẩm L số tiền hụi còn nợ là 14.500.000đ (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng);
Kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Hồ Thị B nộp: 725.0000đ (Bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm
Hoàn trả cho chị Lâm Thị Cẩm L số tiền 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0004608 ngày 26/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKS cùng cấp; - Chi cục THADS HLH; - Các đương sự; - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Diện |