- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 đều phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HSST Ngày: 21 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T P, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Nhung;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;
- Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận T P, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T P, thành phố H tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 29/2022/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2022/QĐXXST-HS ngày 20/3/2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Huy T; sinh năm 1980, tại: TP. H; Hộ khẩu thường trú: 34 P V X, phường P T H, quận T P, TP. H; chổ ở hiện nay: số 9/20 đường Lê Tấn Bê, phường An Lạc, quận Bình Tân, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết H, sinh năm 1957 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1984; con: chưa;
- Nhân thân: Ngày 22/09/1997 bị Tòa án nhân dân TP. H xử phạt 12 năm tù về tội: “Giết người”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2007; ngày 27/02/2014 bị Tòa án nhân dân quận T P, TP. H xử phạt 12 tháng tù về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2014; ngày 30/6/2015 bị Tòa án nhân dân quận T P, TP. H xử phạt 12 tháng tù về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2016.
- Tiền án, tiền sự: không.
- Bị bắt tạm giữ ngày 29/11/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T P, TP. H và có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hữu T1; sinh năm 1997, tại: TP. H; Hộ khẩu thường trú: 544/70 L L Q, phường 5, quận X, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1974 và bà Bùi Thị Thu T, sinh năm: 1973; Vợ, con: chưa.
- Nhân thân: ngày 29/10/2021 bị Công an quận Bình Tân, TP. H khởi tố, bắt tạm giam về hành vi Cướp giật tài sản.
- Tiền án: không;
- Tiền sự: ngày 29/6/2020 bị Tòa án nhân dân quận B T, TP. H ra quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 12/7/2021 chấp hành xong.
- Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận B T, TP. H từ ngày 26/10/2021 và có mặt tại phiên tòa.
3. Du Thành P; sinh năm 1981, tại: TP. H; Hộ khẩu thường trú: 981 Hương Lộ 2, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Du Văn Nhì, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Hậu, sinh năm: 1954; Vợ: Mai Thị Cẩm N1, sinh năm 1986; có 01 người con sinh năm 2004.
- Nhân thân: ngày 29/11/2013 bị UBND quận Bình Tân, TP. H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 04/12/2015.
- Tiền án, tiền sự: không;
- Bị bắt tạm giữ ngày 29/11/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T P, TP. H và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1. Chị Bùi Thị D, sinh năm 1990; trú tại: 34A L Q T, phường P T H, quận T P, TP. H (Vắng mặt).
2. Chị Trần Thị Tuyết H, sinh năm 2000; trú tại: 34A L Q T, phường P T H, quận T P, TP. H (Vắng mặt).
3. Chị Huỳnh Kim T, sinh năm 1992; 34A L Q T, phường P T H, quận T P, TP. H (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Mai Thị Cẩm N1, sinh năm 1979; trú tại: 157/14A Lê Minh Nhật, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP. H (Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1982; trú tại: Chung cư L C H, đường số 2, phường A L, quận B T, TP. H (Vắng mặt).
3. Chị Trần Thuý N2, sinh năm 1996; trú tại: 394/7 N T P, phường 4, quận M, TP. H (Vắng mặt).
4. Anh Trần Văn S, sinh năm 1977; trú tại: 34A L Q T, phường P T H, quận T P, TP. H (Vắng mặt).
5. Anh Tằng phúc C, sinh năm 1984; trú tại: thôn 6B, CE, E, Đ L (Vắng mặt).
6. Anh Nguyễn Tấn T4, sinh năm 1981; trú tại: 34 P V X, phường P T H, quận T P, TP. H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Huy T thuê nhà trọ tại số 34A L Q T, phường P T H, quận T P, sau đó T chuyển đến phòng trọ số 203 nhà số 741/1/58 H L 2, phường B T Đ A, quận B T nhưng T còn giữ chìa khóa cửa cuốn hầm để xe của nhà trọ cũ. Khoảng 00 giờ 30 ngày 11/10/2021, T nảy sinh ý định trộm cắp xe máy tại nhà trọ cũ nên gọi điện thoại rủ Nguyễn Hữu T1 thì T1 đồng ý và gọi điện thoại cho Đ (chưa rõ lai lịch) rủ cùng tham gia.
Đến khoảng 02 giờ 00 cùng ngày Ttiếp tục điện thoại rủ thêm Du Thành P, P đồng ý nên điều khiển xe đến phòng trọ của T1. Lúc này có T, T1, P, Đ và 02 nam thanh niên (chưa rõ lai lịch, bạn của Đ) thì Tnói cho cả nhóm biết T còn giữ 01 cái remote (điều khiển) cửa cuốn ra vào khu vực hầm xe của nhà trọ số 34A L Q T nên có thể mở cửa đột nhập vào trộm xe gắn máy, tất cả đồng ý. Sau đó, T quay về phòng trọ 203 chở Lý Gia H1 (bạn gái T) bằng xe Honda Vision biển số 59D3-0xx.xx; P chở T1 bằng xe Yamaha Nouvo; Đ chở 02 nam thanh niên (bạn của Đ) bằng xe Honda Winner màu đen đỏ (không rõ biển số). Do T1 biết đường đi nên chỉ đường cho P đi trước, khi chạy ngang qua nhà số 34A L Q T, T1 chỉ cho P và nhóm Đ biết địa điểm sẽ trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà số 38F2 P V X, phường P T H, cả nhóm dừng lại thì Nguyễn Huy T lấy remote cửa hầm để xe của nhà trọ đưa cho T1 giữ, rồi chở Lý Gia H1 đi ăn.
Khi đến trước nhà số 34A L Q T, phường P T H, quận T P thì Du Thành P và Đ đứng ngoài cảnh giới, còn Nguyễn Hữu T1 dùng remote bấm cửa cuốn hầm để xe lên, 02 nam thanh niên bạn của Đen và T1 đi vào khu vực hầm xe. T1 lấy trộm xe máy hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 18G1-2xx.xx của chị Bùi Thị D, 02 nam thanh niên bạn của Đen lấy trộm 01 xe máy hiệu Yamaha Nozza, màu trắng, biển số 62G1-1xx.xx của chị Trần Thị Tuyết H có cắm sẵn chìa khoá trên xe và 01 xe Vision màu xanh biển số 59D2-0xx.xx của chị Huỳnh Kim T.
Sau khi lấy được xe T1 điều khiển Honda Vision, màu đỏ, biển số 18G1-2xx.xx, để thanh niên điều khiển xe Yamaha Nozza vừa trộm được dùng chân đẩy đi, còn P và Đen chạy xe đẩy xe Vision màu xanh biển số 59D2-0xx.xx do bạn của Đ điều khiển tẩu thoát về khu trọ nhà số 741/1/58 H L 2, phường B T Đ A, quận B T của T, T1. Khi P và Đen đẩy xe Vision màu xanh về, cùng lúc này T cũng vừa chở H1 về đến, H1 đi vào phòng trọ, thì T nói Du Thành P, Đen mang xe Vision màu xanh vừa trộm được đi chỗ khác để tránh bị phát hiện nên P, Đen và bạn của Đ mang xe này về khu vực hẻm 981 H L 2, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân gửi.
Sau đó, T điện thoại nói Nguyễn Hữu T1 mang xe trộm cắp được đến nhà của P. Khoảng 10 phút sau, T chở H1 đến gặp nhóm của P, lúc này H1 đứng phía ngoài đợi, còn T đi vào trong và biết được cả nhóm trộm cắp được 03 xe máy. Tại đây, P gọi điện cho Phúc (chưa rõ lai lịch) để chào bán 03 xe máy trộm cắp được, Phúc đồng ý mua 03 xe với giá 15.000.000 đồng, T chở H đi về phòng trọ ngủ. Sau khi mua xe Phúc nhờ T1 và P mang xe đi gửi, T1đấu nối dây điện của xe Vision đỏ, Phúc đấu nối dây điện xe Vision xanh để khởi động nổ máy xe. Sau đó, cả ba mang 03 xe đến gửi tại chung cư S G H số 819 H L 2, phường B T Đ A, quận B T. Sau khi gửi 02 xe Vision thì Pđề nghị Phúc bán lại xe Nozza để làm phương tiện đi lại. P lấy 2.500.000 đồng được chia bù thêm 500.000 đồng trả cho Phúc, số tiền bán xe còn lại 12.500.000 đồng do T1giữ để chia cho những người còn lại mỗi người được 2.500.000 đồng.
Ngày 24/10/2021 Nguyễn Hữu T1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B T bắt giữ về tội Cướp giật tài sản nên đã thừa nhận cùng đồng bọn trộm cắp tài sản trên địa bàn quận T P.
Ngày 26/11/2021 qua truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đã đưa Nguyễn Huy T, Du Thành P về làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P Du Thành P, Nguyễn Huy T, Nguyễn Hữu T1 khai nhận T3 bộ hành vi như trên.
Đối với Du Thành P khai: Sau khi mua lại xe máy Nozza màu trắng, biển số 62G1-119.97, Pđã tháo bỏ biển số 62G1-1xx.xx, thay vào biển số 59U1-6xx.xx để sử dụng đi lại. Đến đầu tháng 11/2021 P đến nhà vợ cũ là chị Mai Thị Cẩm N1 tại 157/14 L M N, xã T T H, huyện C C để thăm con và gửi lại xe máy tại đây. Ngày 27/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đã tiến hành khám xét khẩn cấp và thu giữ xe máy này.
Đối với Nguyễn Huy T khai: Việc T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 rủ nhau đi trộm cắp tài sản và bán xe trộm cắp, T không nói cho Lý Gia H1 biết.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số: 18G1-2xx.xx, số khung 5802EY21xxxx, số máy JF58E021xxxx. Xe các bị can trộm cắp của chị Bùi Thị D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho chị Dung.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Nozza, màu trắng, biển số 62G1-1xx.xx, số máy 1DR1-07xxxx; số khung R10CY-07xxxx do anh Nguyễn Hữu T3 (là Cậu của chị Hương) đứng tên chủ sở hữu. Anh T3 mua xe trên năm 2013 và đứng tên chủ sở hữu, sau đó anh tặng cho chị Trần Thị Tuyết H nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trao trả xe trên cho chị H.
Qua xác minh biển số 59U1-6xx.xx, (do P thay) là biển số của xe Yamamha Luvias, màu đỏ đen, có số máy 1SK1-01xxxx, số khung RLCL1SK10EY-01xxxx do Trần Thuý N2, địa chỉ 394/7 N T P phường 4, Quận M đứng tên chủ sở hữu. Chị N2 cho biết: Vào khoảng tháng 9/2021, chị N2 sử dụng xe thì bị rơi mất biển số xe, chi N2 không rõ rơi mất khi nào ở đâu. Hiện chị N2 đã làm lại biển số mới gắn vào xe để sử dụng và không có yêu cầu nhận lại biển số xe trên.
- 01 xe Vision màu xanh biển số 59D2-0xx.xx của chị Huỳnh Kim T, không thu hồi được. Qua xác minh do anh Trần Văn S địa chỉ 34A L Q T, phường P T H, quận T P đứng tên chủ sở hữu. Anh S khai đứng tên giùm cho chị T; Tiến hành lấy lời khai của chị T cho biết chị mua xe năm 2015 với giá 40.000.000đ nhưng do không có hộ khẩu tại thành phố H nên nhờ anh S đứng tên chủ sở hữu. Hiện gia đình của Nguyễn Huy T, Du Thành P đã bồi thường 25.000.000đ cho chị T nên chị không có yêu cầu gì thêm.
- 01 xe máy hiệu Honda LEAD, màu đỏ, biển số: 47F1-0xx.xx, số khung RLHJF2401AY01xxxx, số máy JF24E-032xxxx (xe P sử dụng khi bị bắt, P khai mượn của bạn tên Lũ, quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch). Căn cứ kết luận giám định số 611/KLGĐ-X(Đ4) ngày 23/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Công an thành phố H kết luận xe này có số khung và số máy không thay đổi. Kết quả xác minh biển số 47F1-0xx.xx là xe hiệu Bosymax, số khung RRKDCG3UMAXB0xxxx, số máy VTT52JL1P 50FMG00xxxx, do Tằng phúc C, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn 6B, CE, E, ĐL, đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh được biết Tằng Phúc C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn 6B, CE, E, ĐL nhưng hiện không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P chưa mời làm việc được. Kết quả xác minh số khung: RLHJF2401AY01xxxx, số máy: JF24E-032xxxx không tìm thấy dữ liệu nên chưa xác định được chủ sở hữu.
- 01 áo thun dài tay màu xanh sọc trắng đỏ; 01 quần Jean lửng màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ “DONG NGHI RACING TEAM”; 01 đôi dép tổ ong màu xanh lá là trang phục của bị can Du Thành P mặc khi đi trộm tài sản và lúc gửi xe tại chung cư S G Home.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA- 1203 màu đen, tình trạng đã qua sử dụng, số IMEI 35061854639xxxx, Psử dụng để liên lạc trộm cắp tài sản.
- 01 xe máy hiệu Honda Vision, xanh xám, biển số 59D3-0xx.xx, số khung RLHJK0324LZ00xxxx, số máy JK03E750xxxx. Do anh Nguyễn Tấn T4 (em ruột T), địa chỉ 34 P V X, phường P T H, quận T P đứng tên chủ sở hữu. Anh T4 cho Nguyễn Huy T mượn sử dụng cho đến nay, anh Thành không biết T sử dụng đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T Pđã trao trả cho anh Thành.
- 01 ĐTDĐ hiệu SamSung J7+ màu đen, số Imei: 352808093xxxx, T sử dụng để liên lạc đi trộm cắp tài sản.
Về phần dân sự: Chị Trần Thị Tuyết H và chị Bùi Thị D đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì. Đối với chị Huỳnh Kim Tđã nhận tiền bồi thường từ gia đình của bị can Nguyễn Huy T và Du Thành P nên chị T không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận T P, TP. H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận T Pgiữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Du Thành P từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: do trước đây Nguyễn Huy T có thuê nhà trọ tại số 34A đường L Q T, phường P T H, quận T P, TP. H được chủ nhà trọ giao 01 remote cửa cuốn của nhà để xe. Khoảng 02 giờ ngày 11/10/2021, T nẩy sinh ý định trộm cắp xe máy của những người thuê trọ nên điện thoại rủ Nguyễn Hữu T1, Du Thành P cùng tham gia. T1, Pđồng ý. Ngoài ra, T1 còn rủ thêm Đ và 02 người bạn của Đ (chưa rõ nhân thân lai lịch) cùng tham gia. Khi đến trước cửa nhà trọ 34A đường L Q T thì T đưa remote cho T1. Nguyễn Hữu T1 dùng remote bấm cửa cuốn hầm để xe lên, 02 nam thanh niên bạn của Đ và T1đi vào khu vực hầm xe. Còn P và Đ đứng bên ngoài cảnh giới, Tchở bạn gái đi ăn. T1lấy trộm xe máy hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 18G1-2xx.xx của chị Bùi Thị D, 02 nam thanh niên bạn của Đen lấy trộm 01 xe máy hiệu Yamaha Nozza, màu trắng, biển số 62G1-1xx.xx của chị Trần Thị Tuyết H có cắm sẵn chìa khoá trên xe và 01 xe Vision màu xanh biển số 59D2-0xx.xx của chị Huỳnh Kim Thảo. Tổng trị giá tài sản trộm cắp: 45.000.000 đồng.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận T P, TP. H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra phù hợp với nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì giữa các bị cáo không có phân công bàn bạc và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình. Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
- Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T: là người trực tiếp rủ rê, lôi kéo đồng bọn cùng tham gia thực hiện tội phạm. Chính bị cáo là người đưa 01 remote cho đồng bọn để mở cửa nhà xe thực hiện chiếm đoạt 03 xe honda của những người bị hại. Bị cáo có nhân thân xấu. Nên mức án của bị cáo phải cao hơn mức án của các bị cáo khác.
- Đối với các bị cáo Du Thành P, Nguyễn Hữu T1: khi được T rủ rê, các bị cáo đồng ý ngay. Bị cáo T1 là người trực tiếp đột nhập vào bên trong để chiếm đoạt tài sản, còn bị cáo P là người cảnh giới, sau khi chiếm đoạt được tài sản chính bị cáo Plà người đem tài sản đi tiêu thụ.
Xét tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Tài sản đã kịp thu hồi và trao trả đầy đủ cho người bị hại, nên hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt không lớn. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo P, T đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho chị Huỳnh Kim Thảo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện bồi thường thiệt hại được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Du Thành P còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm I khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Tuyết H và chị Bùi Thị D đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì. Đối với chị Huỳnh Kim Tđã nhận tiền bồi thường từ gia đình của Nguyễn Huy T và Du Thành P, chị Thảo không có yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số: 18G1-2xx.xx, số khung 5802EY21xxxx, số máy JF58E021xxxx. Xe các bị can trộm cắp của chị Bùi Thị D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trả cho chị D là phù hợp.
- Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Nozza, màu trắng, biển số 62G1-1xx.xx, số máy 1DR1-07xxxx; số khung R10CY-07xxxx do anh Nguyễn Hữu T3 (là Cậu của chị H), trú tại: Ấp 6, xã N T, huyện T T, tỉnh L A đứng tên chủ sở hữu. Anh T3 mua xe trên năm 2013 và đứng tên chủ sở hữu, sau đó anh tặng cho chị Trần Thị Tuyết H nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T Pđã trao trả xe trên cho chị Hương là phù hợp.
Qua xác minh biển số 59U1-6xx.xx, (do P thay) là biển số của xe Yamamha Luvias, màu đỏ đen, có số máy 1SK1-01xxxx, số khung RLCL1SK10EY-01xxxx do Trần Thuý N2, địa chỉ 394/7 N T P, phường X, Quận M, TP. H đứng tên chủ sở hữu. Chị N2 cho biết: Vào khoảng tháng 9/2021, chị N2 sử dụng xe thì bị rơi mất biển số xe, chi N2 không rõ rơi mất khi nào ở đâu. Hiện chị N2 đã làm lại biển số mới gắn vào xe để sử dụng và không có yêu cầu nhận lại biển số xe trên. Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe Vision màu xanh biển số 59D2-0xx.xx của chị Huỳnh Kim T, không thu hồi được. Qua xác minh do anh Trần Văn S địa chỉ 34A L Q T, phường P T H, quận T P, TP. H đứng tên chủ sở hữu. Anh S khai đứng tên giùm cho chị T; Tiến hành lấy lời khai của chị T cho biết chị mua xe năm 2015 với giá 40.000.000đ nhưng do không có hộ khẩu tại thành phố H nên nhờ anh S đứng tên chủ sở hữu. Hiện gia đình của Nguyễn Huy T, Du Thành P đã bồi thường 25.000.000đ cho chị T nên chị không có yêu cầu gì thêm.
- Đối với 01 xe máy hiệu Honda LEAD, màu đỏ, biển số: 47F1-0xx.xx, số khung RLHJF2401AY01xxxx, số máy JF24E-032xxxx (xe P sử dụng khi bị bắt, P khai mượn của bạn tên L, quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch). Căn cứ kết luận giám định số 611/KLGĐ-X(Đ4) ngày 23/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Công an thành phố H kết luận xe này có số khung và số máy không thay đổi. Kết quả xác minh biển số 47F1-064.50 là xe hiệu Bosymax, số khung RRKDCG3UMAXB0xxxx, số máy VTT52JL1P 50FMG00xxxx, do Tằng phúc C, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn 6B, CE, E, ĐL, đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh được biết Tằng phúc C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn 6B, CE, E, ĐL nhưng hiện không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T Pchưa mời làm việc được. Kết quả xác minh số khung: RLHJF2401AY01xxxx, số máy: JF24E-032xxxx không tìm thấy dữ liệu nên chưa xác định được chủ sở hữu. Hội đồng xét xử nghĩ giao 01 xe máy hiệu Honda LEAD, màu đỏ, số khung RLHJF2401AY01xxxx, số máy JF24E-032xxxx cho Chi cục Thi hành án dân sự quận T P, TP. H đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 biển số 47F1-0xx.xx nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 áo thun dài tay màu xanh sọc trắng đỏ; 01 quần Jean lửng màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ “DONG NGHI RACING TEAM”; 01 đôi dép tổ ong màu xanh lá là trang phục của bị can Du Thành P mặc khi đi trộm tài sản và lúc gửi xe tại chung cư S G H. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA- 1203 màu đen, tình trạng đã qua sử dụng, số IMEI 35061854639xxxx, P sử dụng để liên lạc trộm cắp tài sản. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 xe máy hiệu Honda Vision, xanh xám, biển số 59D3-0xx.xx, số khung RLHJK0324LZ00xxxx, số máy JK03E750xxxx. Do anh Nguyễn Tấn T4 (em ruột T), địa chỉ 34 P V X, phường P T H, quận T Pđứng tên chủ sở hữu. Anh T4 cho Nguyễn Huy T mượn sử dụng cho đến nay, anh T4 không biết T sử dụng đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T P đã trao trả cho anh Thành là phù hợp.
- Đối với 01 ĐTDĐ hiệu SamSung J7+ màu đen, số Imei: 352808093xxxx, T sử dụng để liên lạc đi trộm cắp tài sản. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 19 ngày 24/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P.
Án phí: Các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 đều phạm tội "Trộm cắp tài sản".
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[2.1] Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 29/11/2021.
[3] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3.1] Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 26/11/2021.
[4] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4.1] Xử phạt bị cáo Du Thành P 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 29/11/2021.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 59U1-6xx.xx; 01 biển số 47F1-0xx.xx; 01 áo thun dài tay màu xanh sọc trắng đỏ; 01 quần Jean lửng màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ “DONG NGHI RACING TEAM”; 01 đôi dép tổ ong màu xanh lá.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1203 màu đen, tình trạng đã qua sử dụng, số IMEI 35061854639xxxx; 01 ĐTDĐ hiệu SamSung J7+ màu đen, số Imei: 352808093xxxx.
- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận T P, TP. H đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 xe máy hiệu Honda LEAD, màu đỏ, số khung RLHJF2401AY01xxxx, số máy JF24E-032xxxx.
Vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 19 ngày 24/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T P.
[6] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Các bị cáo Nguyễn Huy T, Du Thành P, Nguyễn Hữu T1 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố H. Những người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - TAND TP.H; - VKSND Q.T P; - THADS quận T P; - Công an Q.T P; - Công an TP.H; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Đức Thành |