- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Thị Thanh X - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Thanh X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:71/2022/HSST Ngày: 11 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Sơn
Bà Hồ Thị Xuân Thiều
- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Phương Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2022/QĐXX - HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Thạch Thị Thanh X, sinh năm 1999, tại Sóc Trăng; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT: Số 388, đường B, phường 9, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nơi tạm trú: ấp 10, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ me; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 06/12; con ông Thạch S và bà La Thị P; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 10/3/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Mai Thị Ngọc B, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ 4, ấp 7, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thạch Thị Thanh X có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với Ngô Tuấn K tại phòng trọ số 8, nhà trọ Trần Quỳnh - Địa chỉ: ấp 10, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Trong thời gian sinh sống với nhau, giữa K và X thường xuyên xảy ra mâu thuẫn ghen tuông. Khoảng 12 giờ ngày 09 tháng 3 năm 2022, K, X và một số người bạn cùng dãy nhà trọ tổ chức uống rượu tại phòng trọ, trong lúc nhậu K có đi ra ngoài nghe điện thoại nên X nghi ngờ K còn liên hệ với bạn gái cũ tên Mai Thị Ngọc B. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày K và X cãi nhau, K lấy 01 con dao, loại dao chặt thịt, màu đen, dài khoảng 42cm, rộng 08cm tại nền gạch trên gác phòng trọ rồi chém 01 nhát trúng vùng mặt ngoài cẳng chân trái của X, gây thương tích. Thấy X bị chảy nhiều máu, K cầm dao bỏ đi, còn X được bạn cùng phòng trọ đưa đi chữa trị.
Sau đó, K nhờ bạn tên Nguyễn Ngọc Hà, sử dụng xe mô tô chở đến phòng trọ anh Hoàng Văn Cường thuộc nhà trọ Hiền Dịu - Địa chỉ: ấp 3B, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Tại đây, K sử dụng điện thoại di động nhắn tin rủ chị B đến chơi, thì B đồng ý. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, X đi khâu vết thương về, không thấy K nên X hỏi Hà rồi nhờ Hà chở đến nhà trọ Hiền Dịu để tìm K. Tại phòng trọ của anh Hoàng Văn Cường, X khuyên K đi về nhưng K không đồng ý nên X và K tiếp tục cãi nhau. X lấy 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 22cm, rộng 02 cm, cán bằng gỗ, màu nâu, để trên kệ chén của phòng trọ anh Cường, đe dọa tự tử nếu K không về cùng X. Thấy vậy, K kéo X ra đường bê tông trước nhà trọ nói chuyện. X cất con dao vào túi áo khoác đang mặc. Đến khoảng 18 giờ 00 phút, B điều khiển xe mô tô đến gặp K, B chở theo con gái, khi thấy B đến X ghen tức nên X dùng dao Thái Lan cất trong túi áo khoác trước đó, đâm 01 cái trúng vùng hông trái của B, gây thương tích, K vào can ngăn, kéo X ra để B bỏ chạy vào bên trong dãy trọ và X tiếp tục dùng 03 cục gạch ném về phía B nhưng không trúng.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 294/2022/GĐPY ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với chị Mai Thị Ngọc B là 24% (Hai mươi bốn phần trăm).
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Mai Thị Ngọc B yêu cầu X bồi thường số tiền 51.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần và thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích. Bị cáo X đã bồi thường cho chị B số tiền 1.000.000 đồng.
Về vật chứng vụ án:
- 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 22cm, rộng 02 cm, cán bằng gỗ, màu nâu và 03 viên gạch ống, bị bễ là hung khí của vụ án; 01 phong bì thư, bên trong chứa chất màu đỏ (nghi máu).
Tại bản Cáo trạng số 53/CT - VKS ngày 14/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Thạch Thị Thanh X về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 và 58 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên bố bị cáo Thạch Thị Thanh X phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo X từ 24 đến 30 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo X thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Thạch Thị Thanh X và Ngô Tuấn K cùng thuê phòng ở tại nhà trọ Trần Quỳnh - Địa chỉ: Ấp 10, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước và chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2021. Do trước đó xảy ra mâu thuẫn tình cảm, K đánh X gây thương tích nên khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 09/3/2022 X đến phòng ở của anh Hoàng Văn Cường thuê tại nhà trọ Hiền Dịu - Địa chỉ: ấp 3B, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước để gặp K, tại đây giữa X và K xảy ra xô xát, cải nhau nên X lấy 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 22cm, rộng 02 cm, cán bằng gỗ, màu nâu, để trên kệ chén trong phòng ở của anh Cường, mục đích để đe dọa tự tử nếu K không đi về cùng X; sau đó K và X ra đường bê tông trước nhà trọ Hiền Dịu để giải quyết mâu thuẫn, X cất con dao vào túi áo khoác đang mặc. Khoảng 18 giờ 00 phút, chị Mai Thị Ngọc B điều khiển xe mô tô chở theo con gái của chị B đến gặp K tại nhà trọ Hiền Dịu; B là bạn gái cũ của K và cũng là nguyên nhân khiến X và K phát sinh mâu thuẫn. Do vậy, khi thấy chị B đến vì ghen tức nên X đã dùng con dao Thái Lan cất trong túi áo khoác trước đó đâm 01 cái trúng vùng hông trái của B. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 294/2022/GĐPY ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Vết thương hông lưng trái 1,1 x 0,2 cm, thấu bụng, thủng thận trái, rách thanh mạc đại tràng trái; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 24% (Hai mươi bốn phần trăm). Hành vi của bị cáo X đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành truy tố bị cáo X về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo: Bị cáo X đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hộị một thời gian nhất định để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, việc bị cáo X thực hiện hành vi do có một phần lỗi của người bị hại chị B, khi chị B biết rõ giữa X và K đang sống chung như vợ chồng nhưng vẫn qua lại và có mối quan hệ tình cảm với K dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử cũng xem xét về mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo X không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo X đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo X có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn, nhận thức thấp. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị B yêu cầu bị cáo X bồi thường số tiền 51.000.000 đồng, bị cáo X đã bồi thường cho chị B số tiền 1000.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo X và chị B thoả thuận bị cáo bồi thường cho chị B số tiền 50.000.000 đồng, chị B đồng ý. Xét thấy, việc bị cáo và chị B thoả thuận bị cáo bồi thường cho chị B số tiền 50.000.000 đồng là do các bên tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 22cm, rộng 02 cm, cán bằng gỗ, màu nâu; 03 viên gạch ống, bị bể là các công cụ phạm tội (dao) và 01 phong bì thư, bên trong chứa chất màu đỏ nghi là máu.
. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Thạch Thị Thanh X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Thanh X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38; 50; 58 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thạch Thị Thanh X 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Thạch Thị Thanh X có nghĩa vụ phải bồi thường cho chị Mai Thị Ngọc B số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 22cm, rộng 02 cm, cán bằng gỗ, màu nâu; 03 viên gạch ống, bị bể và 01 phong bì thư, bên trong chứa chất màu đỏ nghi là máu.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Thạch Thị Thanh X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKSND tỉnh Bình Phước - VKSND huyện Chơn Thành; - CCTHADS huyện Chơn Thành; - CA huyện Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Mạnh |