vanban.org

Bản án 71/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Tấn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Tấn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2022). Giao bị cáo Võ Tấn L cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Tấn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022/HS-ST
Ngày: 26-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH,

TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thạch.

2. Bà Võ Thị Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Sĩ – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 73/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Tấn L, sinh năm 1991, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: nhà số X, tổ Y, ấp G, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S (đã chết) và bà Lê Hoàng A; vợ: Vi Thị Đ, con: có 01 người; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: ngày 17/7/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 26/01/2018 chấp hành xong (đã xóa án tích); bị bắt tạm giam từ ngày 23/6/2022, đến ngày 25/7/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn H, sinh năm 2000; nơi cư trú: nhà số M, đường N, khu phố L, phường G, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt).

2. Anh Phùng Khắc N, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp G, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 07/02/2022, bị cáo L mượn xe ô tô biển số 70A-296.20, nhãn hiệu Huyndai Santafe, màu sơn trắng của anh Phùng Khắc N (xe của Công ty V giao cho anh N quản lý, sử dụng) để đi việc riêng.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo L điều khiển xe ô tô biển số 70A-296.20 chở vợ là chị Vi Thị Đ đến nhà bà Võ Thị Hồng L (chị ruột của bị cáo L) tại số M, đường N, khu phố L, phường G, thị xã H, tỉnh Tây Ninh để dự tiệc. Đến nơi, bị cáo L đỗ xe cặp lề đường trước nhà bà L, gần vị trí xe ô tô biển số 70A-282.16, nhãn hiệu Toyota Corolla Cross, màu sơn trắng của anh Nguyễn H (con ruột bà L). Khi vừa xuống xe đi vào nhà, bị cáo L và bà L xảy ra cự cãi, bị cáo L nhặt một tảng bê tông ném trúng cốp sau xe ô tô biển số 70A-282.16. Lúc này, anh N có mặt tại nhà bà L nên chạy lại can ngăn rồi dùng xe ô tô biển số 70C-164.35, nhãn hiệu Nissan, màu sơn xám chở bị cáo L về nhà của bị cáo, rồi điều khiển xe quay lại nhà bà L.

Khoảng 30 phút sau, bị cáo L lấy 01 con dao bằng kim loại, màu trắng bạc, chiều dài khoảng 29,5cm, lưỡi dao dài khoảng 18cm, bề rộng lưỡi dao khoảng 9,2cm của gia đình rồi điều khiển xe mô tô biển số 70G1-624.30, màu sơn vàng cam của anh H (anh H cho bị cáo L mượn xe sử dụng trước đó) cầm theo con dao chạy đến đỗ xe trước nhà bà L, bị cáo L cầm dao chém vào xe ô tô biển số 70A-282.16 (xe của anh H) làm hư hỏng phần nấp capo, kinh chắn gió trước, kính hậu, các kính cửa trước sau, hai bên phải và trái. Sau đó, bị cáo L lên xe mô tô chạy đi, được khoảng 10 phút thì quay lại nhà bà L, bị cáo nói “Tao đập xe, tao đập tiếp, cho bả đền luôn”, rồi dùng dao chém vào xe ô tô biển số 70A-296.20 (xe của anh N) làm hư hỏng phần kính chắn gió trước, kính hậu, các kính cửa trước sau, hai bên phải và trái. Sau khi gây án, bị cáo L bỏ trốn, đến ngày 23/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thực hiện Lệnh bắt bị can để tạm giam.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/BBĐG-TTHS ngày 05/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành, kết luận: Chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản trước khi bị hư hỏng một phần hoặc toàn bộ đối với các phụ tùng xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Corolla Cross biển số 70A-282.16 là 51.513.200 đồng; chi phí phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản trước khi bị hư hỏng một phần hoặc toàn bộ đối với các phụ tùng xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Santafe biển số 70A-296.20 là 47.265.000 đồng, tổng cộng là 98.778.200 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn H đã tự nguyện sửa chữa xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Corolla Cross biển số 70A-282.16 và không yêu cầu bị cáo L bồi thường. Bị cáo L đã tự nguyện bồi thường cho anh Phùng Khắc N tiền sửa chữa xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Santafe biển số 70A-296.20 là 61.562.000 đồng và anh N không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSHT ngày 09 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d, g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Tấn L mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo L phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 19 giờ ngày 07/02/2022, tại nhà số M, đường N, khu phố L, phường G, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, bị cáo L đã có hành vi sử dụng tảng bê tông và dao đập phá làm hư hỏng xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Corolla Cross biển số 70A-282.16 của anh Nguyễn H và xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Santafe biển số 70A-296.20 của anh Phùng Khắc N, gây thiệt hại với tổng giá trị là 98.778.200 đồng. Hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành truy tố bị cáo L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” với tình tiết định khung là “Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt và tức giận nhất thời mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ và phạm tội 02 lần trở lên nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị hại có yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo L hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để bị cáo tự cải tạo trở thành người tốt.

Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành đề nghị áp dụng đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Nguyễn H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh Phùng Khắc N 61.562.000 đồng và anh N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Nhiều mảnh vỡ kính không rõ hình, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với con dao bằng kim loại, dài 29,5cm, lưỡi dao dài 18cm, bản dao rộng 9,2cm, màu trắng bạc mà bị cáo giao nộp: đây là con dao tương tự với con dao mà bị cáo sử dụng đập phá xe ô tô của bị hại, không phải là công cụ dùng vào việc phạm tội của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Tấn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d, g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Võ Tấn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2022).

Giao bị cáo Võ Tấn L cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận anh Nguyễn H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Ghi nhận bị cáo Võ Tấn L đã bồi thường thiệt hại cho anh Phùng Khắc N số tiền 61.562.000 đồng và anh N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 29,5cm, lưỡi dao dài 18cm, bản dao rộng 9,2cm, màu trắng bạc, đã qua sử dụng; nhiều mảnh vỡ kính không rõ hình.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ