- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn D và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q phạm tội Cố ý gây thƣơng tích; các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1, Phạm Đình M2, Vũ Đình L phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HS-ST Ngày 27-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lan và ông Lƣơng Đình Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hiếu - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 20/9/2022 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn D, sinh năm 1997; nơi sinh: xã PL, huyện BB, tỉnh Bắc Cạn; nơi cƣ trú: thôn NH, xã PL, huyện BB, tỉnh Bắc Cạn; nơi tạm trú: Công ty NP, phƣờng MĐ, thị xã MH, tỉnh Hƣng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ1 và bà Trƣơng Thị H1; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 26/10/2015, Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Cố ý gây thƣơng tích; bị cáo chấp hành xong 05/11/2015; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng;
2. Vi Hải Q, sinh ngày 15/01/2004; nơi sinh: xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: bản CM, xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn X và bà Lê Thị H2; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng;
3. Vi Văn X, sinh năm 1979; nơi sinh: xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: bản CM, xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T1 (đã chết) và bà Vi Thị M3; có vợ là Lê Thị H2 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng;
4. Phạm Văn Đ, sinh năm 1994; nơi sinh: xã ĐT, huyện TH, tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký HKTT: thôn AP, xã ĐT, huyện TH, tỉnh Thái Bình; nơi tạm trú: thôn NM, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ2 (đã chết) và bà Lê Thị L1; có vợ là Phan Thị K.A; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng;
5. Vi Văn H, sinh ngày 10/9/2003; nơi sinh: xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: bản CM, xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: thôn NM, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T2 (đã chết) và bà Vi Thị K; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng;
6. Vi Văn T, sinh năm 1995; nơi sinh: xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: bản CM, xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: thôn NM, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Q1 và bà Vi Thị L2; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng;
7. Vi Anh M1, sinh năm 1999; nơi sinh: xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: bản CM, xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: thôn NM, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn X và bà Lê Thị H2; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú;
8. Phạm Đình M2, sinh năm 1975; nơi sinh: xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T3 và bà Phạm Thị B1; có vợ là Lê Thị B2 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 15/01/2014, Công an huyện Bình Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đánh bạc. Bị cáo chấp hành xong ngày 16/01/2014; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú;
9. Vũ Đình L, sinh năm 1984; nơi sinh: xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và bà Vũ Thị T4; có vợ là Đoàn Thị H3 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 39/HSST/2017 ngày 15/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xử phạt 12 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc, bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 15/9/2019; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú;
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1: Ông Phạm Văn Điều - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng.
Bị hại: Anh Phạm Đình H, sinh năm 1980; Nơi cƣ trú: thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng.
Người làm chứng: Bà Lê Thị H2; chị Nguyễn Thị L3; chị Phạm Thị K.A.
(Tại phiên tòa, có mặt: các bị cáo, ngƣời bào chữa cho các bị cáo; ngƣời bị hại; ngƣời làm chứng là bà Lê Thị H2, chị Phạm Thị K.A. Vắng mặt: ngƣời làm chứng là chị Nguyễn Thị L3).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vi Văn X, Vi Hải Q, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1, Phạm Văn Đ, Hoàng Văn D là công nhân Công ty Nam Phát có địa chỉ tại phƣờng MĐ, thị xã MH, tỉnh Hƣng Yên. Tối ngày 28/11/2021, D, X, Q, T, Đ, H cùng nhau ăn cơm, uống rƣợu tại phòng trọ của X (X cùng gia đình thuê trọ tại khu nhà trọ của ông Phạm Đình T5 ở thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng). Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, D xin phép đi về khu nhà ở của công nhân Công ty Nam Phát, khi đi bộ đến ngã 3 thôn NM, xã VH thì gặp Phạm Đình M2 và Vũ Đình L đang ngồi uống bia ở vỉa hè trƣớc cửa nhà anh Phạm Đình H ở cùng thôn. Thấy D là ngƣời lạ, lại đi bộ một mình nên M2, L gọi D vào hỏi “đi đâu đấy, trọ nhà ai”, D trả lời “em làm ở công ty Nam Phát”. M2 bật lon bia mời D uống cùng, trong lúc ngồi uống bia, M2, L, D có lời qua tiếng lại với nhau. D đứng dậy đi bộ quay lại khu nhà trọ, trên đƣờng đi D gặp M1 (ở cùng khu trọ nhà ông T5), D nói với M1 “có mấy ông ngồi uống bia, sợ bị chặn đánh”, M1 nói “để em xuống xem như thế nào”. M1 điều khiển xe mô tô BKS 37G1-147.06 đi đến chỗ M2, L nói “chúng mày làm gì anh tao” đồng thời có lời nói chửi bới, xúc phạm. Thấy vậy, M2, L đứng dậy dùng chân tay đấm, đá nhiều nhát vào ngƣời M1, M1 dùng chân tay đánh lại M2 và L, sau đó bỏ chạy về phía nhà trọ và hô“em bị người ta đánh, con bị người ta đánh, cứu với”. M2, L đuổi theo đánh M1, anh H thấy vậy chạy theo can ngăn không cho M2 và L đuổi đánh M1. D thấy M1 chạy về hƣớng nhà trọ, hô hoán bị đánh nên chạy vào trong khu trọ hô hoán “M1 bị người ta đánh”. Ngay lúc đó, Q vào trong bếp cầm theo 01 con dao, D cầm chiếc điếu cày cùng với X, T, Đ, Vi Văn H và bà Lê Thị Hồng, sinh năm 1977 (là vợ X) chạy ra ngoài đƣờng. Thấy M1 bị đánh ngồi ôm đầu ở rìa đƣờng, D chạy đến chỗ M1 thì bị ném gạch trúng vào trán (không xác định đƣợc ai ném). Lúc này, M2 và L thấy nhóm M1 có đông ngƣời cầm hung khí nên L bỏ chạy về nhà, M2 bỏ chạy về khu cổng nhà anh H, còn anh H đứng ở đƣờng gần chỗ M1 ngồi. Sau khi M2 và L bỏ chạy, D cho rằng anh H là ngƣời đánh M1 nên cầm điếu cày chạy đến vụt nhiều nhát vào ngƣời, anh H đƣa tay trái lên đỡ thì bị trúng vào cẳng tay. Q cầm dao chém 02 phát về phía anh H làm anh H bị thƣơng, sau đó bị ai đó ném gạch vào ngƣời làm Q bị rơi dao xuống đất. Bà H2 vào can ngăn, nhặt dao không cho Q cầm nhƣng Q giằng lại và tiếp tục cầm dao trên tay định đánh thì anh H bỏ chạy về xƣởng gỗ nhà mình, Q cầm dao, D cầm điếu cày, Đ, X, T, Vi Văn H nhặt gạch ở đƣờng đuổi theo phía sau. Khi thấy anh H và M2 chạy vào trong xƣởng gỗ đóng cửa lại, Q, D, Đ, X, T, Vi Văn H nhặt gạch ở đƣờng ném vào cửa xƣởng nhà anh H. D dùng tay kéo cửa để cho T, Đ ném gạch vào bên trong, T đạp cửa và cả nhóm đứng bên ngoài vừa ném gạch, đạp cửa, kéo cửa vừa chửi bới thách thức đánh nhau với M2 và anh H. Sau khi đƣợc ngƣời dân trong thôn can ngăn thì nhóm của Q dừng lại đi về nhà trọ. Anh H bị thƣơng ở tay trái và vùng đầu, đƣợc gia đình đƣa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng điều trị từ ngày 28/11/2021 đến 06/12/2021 ra viện, D và M1 bị thƣơng nhẹ.
Kết luận giám định số 52/TgT ngày 23/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Hải Dƣơng kết luận: Anh H bị chấn thƣơng gây gãy kín 1/3 dƣới xƣơng trụ tay trái, vết thƣơng phần mềm vùng đầu ở giữa chẩm và thái dƣơng đỉnh trái kích thƣớc nhỏ. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 12%. Các tổn thƣơng trên có đặc điểm do vật tày và vật sắc gây ra, anh H bị ngƣời khác dùng điếu cày, dao gây ra là phù hợp.
Kết luận giám định số 97/TgT ngày 22/4/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Hải Dƣơng kết luận: Hoàng Văn D bị vết thƣơng phần mềm vùng mặt ở trán - cung lông mày kích thƣớc nhỏ. Tổn thƣơng có đặc điểm do vật tày gây ra, D bị ngƣời khác dùng gạch ném gây ra là phù hợp. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 03%.
Kết luận giám định số 98/TgT ngày 22/4/2022 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế Hải Dƣơng kết luận: Vi Anh M1 bị vết thƣơng phần mềm vùng đầu ở chẩm phải, kích thƣớc nhỏ. Tổn thƣơng có đặc điểm do vật tày gây ra. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 01%.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 19-8-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố Hoàng Văn D, Vi Hải Q về tội Cố ý gây thƣơng tích và tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố Vi Anh M1, Phạm Đình M2, Vũ Đình L về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1: nhất trí với bản cáo trạng truy tố, các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đã nêu tại phần luận tội. Đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh của các bị cáo đều là ngƣời dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, cho các bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp để các bị cáo sớm đƣợc về đoàn tụ với gia đình và xã hội, cụ thể: bị cáo D 27 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích, 27 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt 54 tháng tù; bị cáo Q 18 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích, 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt 36 tháng tù; các bị cáo; các bị cáo X, T, H mỗi bị cáo 24 tháng tù; bị cáo M1 7 đến 9 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 14 đến 18 tháng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho cả 6 bị cáo D, Q, X, H, T, M1.
- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q phạm tội Cố ý gây thƣơng tích; các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1, Phạm Đình M2, Vũ Đình L phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn D. Xử phạt bị cáo D từ 27 đến 30 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích; 30 đến 33 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 57 đến 63 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vi Hải Q. Xử phạt bị cáo Q từ 20 đến 23 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích; 22 đến 25 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T. Xử phạt mỗi bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vi Anh M1. Xử phạt bị cáo M1 từ 9 đến 12 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Đình M2 và Vũ Đình L. Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo M2. Xử phạt bị cáo Phạm Đình M2, Vũ Đình L mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ 5 đến 10% thu nhập hàng tháng của mỗi bị cáo nộp vào ngân sách nhà nƣớc.
Về xử lý vật chứng, án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng do Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Giang thu giữ, có đặc điểm theo nhƣ biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 23/8/2022, giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng và Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng.
Các bị cáo Phạm Văn Đ, Phạm Đình M2, Vũ Đình L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời bào chữa là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai và thƣơng tích của bị hại, biên bản khám nghiệm kèm sơ đồ hiện trƣờng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, hình ảnh camera, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 28/11/2021, tại thôn NM, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng, Hoàng Văn D và Vi Hải Q có hành vi dùng điếu cày, dao (là hung khí nguy hiểm) đánh gây thƣơng tích cho anh Phạm Đình H, làm anh H bị tổn hại 12% sức khỏe. Phạm Đình M2, Vũ Đình L, Vi Anh M1 có hành vi dùng chân, tay đuổi đánh nhau tại đƣờng làng thôn NM; Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T có hành vi dùng dao, điếu cày, gạch (là hung khí nguy hiểm) đuổi, đánh Phạm Đình M2 và Vũ Đình L, ném gạch vào nhà anh Phạm Đình H gây mất trật tự công cộng, ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thôn NM, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng.
Các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng điếu cày vụt, dùng dao chém vào ngƣời bị hại nhất định sẽ gây ra thƣơng tích nhƣng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi với mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Các bị cáo dùng điếu cày và dao là hung khí nguy hiểm vụt, chém vào ngƣời bị hại, hậu quả làm cho ngƣời bị hại là anh Phạm Đình H bị tổn thƣơng cơ thể 12% nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố các bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T có hành vi dùng dao, điếu cày, gạch (là hung khí nguy hiểm) đuổi đánh, hô hoán, chửi bới Phạm Đình M2 và Vũ Đình L, ném gạch vào nhà anh Phạm Đình H; Phạm Đình M2, Vũ Đình L, Vi Anh M1 có hành vi dùng chân, tay đuổi đánh, hô hoán, chửi bới, thách thức nhau tại đƣờng làng thôn NM, là nơi công cộng, đông dân cƣ, đông ngƣời và phƣơng tiện qua lại gây náo động nơi công cộng, ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và Đ độ tuổi luật định; nhận thức rõ hành vi thực hiện xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng đƣợc Luật hình sự bảo vệ nhƣng vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, truy tố các bị cáo Phạm Đình M2, Vũ Đình L, Vi Anh M1 theo khoản 1 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với tội cố ý gây thƣơng tích: D và Q đồng phạm giản đơn trong đó D giữ vai trò thứ nhất. Đối với tội gây rối trật tự công cộng: 9 bị cáo trong vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó D, Q có vị trí ngang nhau và giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Tiếp đến là Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T và giữ vai trò sau cùng là Vi Anh M1, Phạm Đình M2, Vũ Đình L.
Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Về nhân thân: Các bị cáo D, M2, L có nhân thân xấu; các bị cáo còn lại có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên cả 9 bị cáo đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo D, Q, X, Đ, T, M1, Vi Văn H đã tự nguyện bồi thƣờng cho anh Phạm Đình H số tiền 70.000.000 đồng, anh H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thƣờng thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, tuy nhiên chỉ có 2 bị cáo D, Q phạm tội Cố ý gây thƣơng tích nên 2 bị cáo này đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo X, Đ, T, M1, Vi Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng nên không đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ này nhƣng Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo; bị cáo M1 và bị cáo M2 phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo M2, L có đóng góp trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại địa phƣơng nên 2 bị cáo này đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc các bị cáo D, Q, X, Đ, Vi Văn H, Vi Văn T cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Đối với bị cáo Vi Văn Q khi phạm tội thuộc độ tuổi từ đủ 16 đến dƣới18 tuổi nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đối với bị cáo M1, thành khẩn khai báo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cƣ trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đối với các bị cáo M2, L giữ vai trò sau cùng trong vụ án, phạm tội xuất phát từ nguyên nhân bị M1 chửi bới, xúc phạm; các bị cáo đƣợc hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cƣ trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, hàng tháng khấu trừ thu nhập của các bị cáo để sung quỹ nhà nƣớc cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm chung.
Đối với Hoàng Văn D bị thƣơng tích, tổn hại 03% sức khỏe, Vi Anh M1 bị thƣơng tích, tổn hại 01% sức khỏe nhƣng chƣa xác định đƣợc ngƣời gây ra thƣơng tích. D và M1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên không đặt ra việc xử lý.
Bà Lê Thị H2 có mặt tại hiện trƣờng nhƣng không đồng phạm với các bị cáo; Các bị cáo có hành vi dùng gạch ném vào cửa xƣởng gỗ nhà anh Phạm Đình H làm bẹp, lõm cửa tôn nhƣng không gây ra thiệt hại, anh H tự khắc phục đƣợc nên không đặt ra việc xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo D, Q, X, Đ, T, M1, Vi Văn H đã tự nguyện bồi thƣờng cho anh Phạm Đình H số tiền 70.000.000 đồng. Anh H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thƣờng bất cứ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 03 viên gạch chỉ màu đỏ kích thƣớc (20 x 9 x 5)cm; 01 viên gạch chỉ màu đỏ kích thƣớc (20 x 9 x 5)cm bị vỡ ¼ viên; ¼ viên gạch chỉ màu đỏ kích thƣớc (7 x 0,5 x 5) cm; 01 viên gạch ba banh màu trắng đục kích thƣớc (15 x 23 x 7)cm còn bám dính vết máu; 01 gậy sắt hình trụ tròn mầu bạc dài 110 cm, đƣờng kính 2,5 cm có tay nắm màu xanh dƣơng; 01 ghế tựa bằng nhựa màu đỏ nhãn hiệu SongLong Plastic bị vỡ làm nhiều mảnh; 01 lõ điếu cầy màu đen dài 9cm, phần thân rộng 5cm, viền kim loại màu vàng; 01 điếu cầy bằng tre màu đen dài 66cm, đƣờng kính 4,5cm và 02 chiếc dép màu đen kích thƣớc (27 x 10)cm có ba vệt trắng ngang, đây là những vật chứng của vụ án các bị cáo dùng làm công cụ, phƣơng tiện phạm tội, hoặc không có giá trị hoặc không sử dụng đƣợc nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với con dao bị cáo Q sử dụng đánh anh Phạm Đình H, sau đó Q đã đƣa lại cho ngƣời khác cầm, cơ quan điều tra đã truy tìm nhƣng không quản lý đƣợc nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn Đ, Phạm Đình M2, Vũ Đình L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1 bị kết án, tuy nhiên bị cáo D thuộc đối tƣợng dân tộc thiểu số cƣ trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo Vi Văn H thuộc đối tƣợng hộ nghèo, các bị cáo Q, X, T, M1 thuộc đối tƣợng hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn D.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vi Hải Q.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Vi Anh M1.
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Phạm Đình M2 và Vũ Đình L. Điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Đình M2.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.
1. Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q phạm tội Cố ý gây thƣơng tích; các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1, Phạm Đình M2, Vũ Đình L phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
2. Xử phạt:
- Bị cáo Hoàng Văn D 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích; 02 năm 09 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/5/2022.
- Bị cáo Vi Hải Q 01 năm 08 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích; 01 năm 10 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/5/2022.
- Bị cáo Vi Văn X 27 (hai mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/5/2022.
- Bị cáo Phạm Văn Đ 27 (hai mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/5/2022.
- Bị cáo Vi Văn H 27 (hai mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/5/2022.
- Bị cáo Vi Văn T 27 (hai mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/5/2022.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Phạm Văn Đ, Vi Văn H, Vi Văn T, mỗi bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Bị cáo Vi Anh M1 09 (chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (mƣời tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vi Anh M1 cho Ủy ban nhân dân xã CB, huyện QC, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
- Bị cáo Phạm Đình M2 15 (mƣời lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo Phạm Đình M2 trong thời gian cải tạo không giam giữ, nộp vào ngân sách nhà nƣớc.
- Bị cáo Vũ Đình L 15 (mƣời lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo Vũ Đình L trong thời gian cải tạo không giam giữ, nộp vào ngân sách nhà nƣớc.
Giao các bị cáo Phạm Đình M2, Vũ Đình L cho Ủy ban nhân dân xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú đối với các bị cáo Vi Anh M1, Phạm Đình M2, Vũ Đình L.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 03 viên gạch chỉ màu đỏ kích thƣớc (20 x 9 x 5)cm; 01 viên gạch chỉ màu đỏ kích thƣớc (20 x 9 x 5)cm bị vỡ ¼ viên; ¼ viên gạch chỉ màu đỏ kích thƣớc (7 x 0,5 x 5) cm; 01 viên gạch ba banh màu trắng đục kích thƣớc (15 x 23 x 7)cm còn bám dính vết máu; 01 gậy sắt hình trụ tròn mầu bạc dài 110 cm, đƣờng kính 2,5 cm có tay nắm màu xanh dƣơng; 01 ghế tựa bằng nhựa màu đỏ nhãn hiệu SongLong Plastic bị vỡ làm nhiều mảnh; 01 lõ điếu cầy màu đen dài 9cm, phần thân rộng 5cm, viền kim loại màu vàng; 01 điếu cầy bằng tre màu đen dài 66cm, đƣờng kính 4,5cm và 02 chiếc dép màu đen kích thƣớc (27 x 10)cm có ba vệt trắng ngang.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương quản lý, có đặc điểm theo như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 23/8/2022, giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
4. Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn Đ, Phạm Đình M2, Vũ Đình L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Văn D, Vi Hải Q, Vi Văn X, Vi Văn H, Vi Văn T, Vi Anh M1.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Trại tạm giam – CA tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Bình Giang; - CQCSĐT - Công an huyện Bình Giang; - CCTHADS huyện Bình Giang; - CQ THAHS – Công an huyện Bình Giang; - Bị cáo; - Ngƣời bào chữa; - Lƣu HS; Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê T Nam |