vanban.org

Bản án 71/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 13/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim N và bị hại Lê Văn N1.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới L, thành phố Cần Thơ. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Kim N - Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim N và bị hại Lê Văn N1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022/HS-PT
Ngày: 13/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N1 VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Các Thẩm phán: 1/ Bà Huỳnh Thị Bích Vân

2/ Bà Trương Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Huỳnh Kim N do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HSST ngày 04/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới L, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Kim N, sinh ngày 10/5/1988 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp Thới H, xã Thới T, huyện Thới L, thành phố Cần Thơ; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; Con ông Huỳnh Thanh P (chết) và bà Đinh Thị B (sống); có chồng là D; con có 02 người (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh ngày 07/9/2022). Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người bị hại có kháng cáo: Ông Lê Văn N1, sinh năm 1976;

Địa chỉ: ấp Thới H, xã Thới T, huyện Thới L, thành phố Cần Thơ; Có mặt.

Trong vụ án, còn có các bị hại khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 10/12/2021, Huỳnh Kim N tổ chức nhậu tại nhà thuộc ấp Thới Hòa, xã Thới Thạnh, huyện Thới L, thành phố Cần Thơ cùng bạn trai tên Đặng Hoàng Kiệt E, Nguyễn Minh K, Hồ Phong S, Nguyễn Thanh S. Trong lúc nhậu, Kiệt E thường nhắn tin nên N ghen tuông, cự cãi với Kiệt E, rồi N giật điện thoại của Kiệt E cùng chén trên bàn nhậu ném xuống đất nên K, S can ngăn. Lúc này bà Huỳnh Kim Bích T (chị ruột N) nhà sát vách nhà N nghe tiếng cự cãi nên T một mình đi qua. Khi đến nơi thấy chén bị bể nên T mới đi tìm đồ hốt rác, khi khòm người xuống đầu bà T đụng vào sào phơi đồ bị ngất xỉu. Lê Văn N1 ở nhà hay tin vợ mình bị ngất xỉu nên điện thoại cho người em ruột tên Lê Văn Út N qua phụ giúp đưa T đi bệnh viện, hay tin thì Út N chạy xe mô tô biển số 52L1 – 1071 và người em tên Lê Văn K, mỗi người chạy xe riêng qua nhà N. Sau đó N1, Út N đi qua nhà N, K đứng ngoài lộ nhưng bị N ra cổng rào ngăn lại nên Út N ôm N thì bị N cắn vào tay, thấy vậy N1 đi ra hàng rào nhặt khúc gỗ tròn dài 80cm đi vào cổng rào thì bị N đi ra cản lại, N1 cầm khúc gỗ đánh trúng vào hông bên trái của N một cái. Lúc này Kiệt E bẻ khúc cán cây lau nhà bằng kim loại chạy ra đánh nhau với N1. S dìu T ra lộ để Út N, K chở đi bệnh viện Ô Môn rồi N1 một mình chạy xe theo phía sau. Khi N1 chạy xe đi, N đi qua nhà N1 nhặt khúc gỗ gần đó ném vào cửa kính nhà N1 làm bể cửa kính bên trái, tiếp tục N nhặt khúc gỗ đập vào một bên còn lại rồi N đi xuống cặp mé sông dùng quẹt gas có sẵn ở nhà bếp đốt nhà bếp của N1 làm tấm màng che nắng bị cháy rớt lửa xuống làm cháy toàn bộ chiếc xe mô tô biển số 52L1 – 1071 của Lê Văn Út L1 mà Lê Văn Út N vừa dựng tại đó. Lúc này có anh Huỳnh Văn H vừa chạy xe ngang thấy dừng lại định múc nước chữa cháy nhưng N ngăn lại không cho chữa cháy và dùng củi khô ném vào xe đang cháy. Sau đó N lấy tấm thảm lau chân đặt lên nắp thùng loa kẹo kéo đang để trong sân nhà N1 rồi dùng khúc củi đang cháy đốt làm cháy nắp loa kẹo kéo và một cái micro hiệu JSJ W15, dây nguồn sạt điện cho loa, ổ cắm điện loại dài 06 mét. N nghi ngờ N1 trốn về nhà cha mẹ ruột nên N một mình quá giang xuồng người dân qua sông rồi đi bộ về hướng nhà bà Nguyễn Thị Mỹ H (mẹ N1) chửi bà H rồi N nhặt trái dừa khô để trước sân nhà ném mạnh vào cửa trước làm bể kính nhà bà H rồi N đi về nhà.

Đến khoảng 14 giờ ngày 11/12/2021, lực lượng công an xã Thới T đến nhà N1 để xác minh sự việc. Trong lúc đồng chí Hoàng Xuân P (công an viên) làm việc với N1 thì N có mặt gần đó, rồi N1 đưa chiếc điện thoại Vivo Y12S, sim số 0933311171 đang có cuộc gọi của mẹ vợ ở Hàn Quốc gọi về nói việc N tập tụ nhiều người tại nhà bà thì bất ngờ bị N đi đến giật điện thoại và ném xuống sông Rạch Điều.

Tại bản kết luận định giá số 31/KL – HĐĐG ngày 28/01/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Thới L kết luận:

- 01 miro JSJ W15 bị đốt cháy chỉ còn một phần của miro đã qua sử dụng với số tiền 450.000 đồng;

- 01 dây nguồn sạc pin cho loa đã qua sử dụng với số tiền 20.000 đồng;

- 01 ổ cắm loại 06 mét đã qua sử dụng với số tiền 50.000 đồng;

- 01 mô tô biển kiểm soát 52L1 – 1071, số máy CT100E1320599, số khung CT100F1320543 bị cháy toàn bộ đã qua sử dụng với số tiền 800.000 đồng;

- Kính cửa thường kích thước 1,77m x 0,66m, dày 04mm, 02 cánh bị bể với số tiền 630.000 đồng.

- Kính cửa thường kích thước 1,52m x 0,53m, dày 04mm bị bể với số tiền 218.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 332/KL – HĐĐG ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thới L kết luận: vỏ thùng loa kẹo kéo bằng ván ép, nắp có kích thước 45cm x 52cm x 02cm, chiều cao 76cm, có 05 vách bằng ván ép, 01 vách bằng lưới kim loại đã qua sử dụng với số tiền 1.500.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại: 3.668.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 vỏ thùng loa kẹo kéo bằng ván ép, nắp có kích thước 45cm x 52cm x 02cm, chiều cao 76cm, có 05 vách bằng ván ép, 01 vách bằng lưới kim loại;

- 01 micro JSJ W15 bị đốt cháy chỉ còn phần tay cầm;

- 01 dây nguồn sạc pin điện cho loa bị cháy;

- 01 đoạn dây điện 06 mét bị cháy nham nhở;

- 01 mô tô biển kiểm soát 52L1 – 1071 cháy còn bộ khung;

- 01 miếng vải bị cháy nham nhở, kích thước 40 x 10cm;

- 01 khúc gỗ dài 68cm, có 2 nhánh lần lượt 21cm và 15cm;

- 01 thanh kim loại dài 66cm, bị gãy mất một đoạn tay cầm;

- 01 trái dừa khô dài 22cm, đường kính 51cm;

- 01 khúc gỗ dài 30cm;

- 01 khúc gỗ dài 50cm;

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y12S màu đen IM: 861177051808578;

Tất cả chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới L, thành phố Cần Thơ.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn Út L, Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị Mỹ H không yêu cầu bồi thường thiệt hại và có đơn xin miễn trách nhiễm hình sự đối với Huỳnh Kim N.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HSST ngày 04/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới L đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Kim N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 18/7/2022 bị cáo Huỳnh Kim N và bị hại Lê Văn N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, đã có xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo, người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo nhưng không cung cấp chứng cứ về tình tiết mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim N và người bị hại Lê Văn N1 trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.

Về quan hệ nhân thân:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp Giấy chứng sinh thể hiện: bị cáo sinh con vào ngày 07/9/2022. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Kim N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 10/12/2021, sau khi cự cãi với người bị hại Lê Văn N1, Huỳnh Kim N đã có hành vi đập cửa kính, đốt thùng loa và một số vật dụng tại nhà của Lê Văn N1, đốt xe mô tô biển kiểm soát 52L1 – 1071 của Lê Văn Út L (em trai của N1), ném trái dừa khô làm bể cửa kính nhà bà Nguyễn Thị Mỹ H (mẹ của N1).

Tại bản kết luận định giá số 31/KL – HĐĐG ngày 28/01/2022 và bản kết luận định giá tài sản số 332/KL – HĐĐG ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: tổng giá trị thiệt hại do hành vi của bị cáo gây ra là 3.668.000 đồng.

Như vậy, với chuỗi hành vi nêu trên và giá trị tài sản bị thiệt hại, cấp sơ thẩm truy tố xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Mặt khác theo hồ sơ vụ án thể hiện: vào lúc 14 giờ ngày 11/12/2021, khi lực lượng Công an xã Thới T đến nhà bị hại Lê Văn N1 để xác minh sự việc thì bị cáo tiếp tục có hành vi ném điện thoại di động hiệu Vivo Y12S của Lê Văn N1 xuống sông Rạch Điều. Lẽ ra, còn phải định giá chiếc điện thoại để xem xét toàn diện đối với hành vi của bị cáo (tại phiên tòa, bị cáo và bị hại cùng xác định mua điện thoại này với giá hơn 3.000.000 đồng) nhưng cấp sơ thẩm không tiến hành định giá là thiếu sót. Mặc dù việc xác định giá trị của điện thoại trên không làm thay đổi khung hình phạt truy tố đối với bị cáo nhưng thể hiện rõ hơn bản chất của sự việc cũng như tính chất mức độ về hành vi của bị cáo.

Xét kháng cáo của bị cáo và bị hại:

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp hậu quả để thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên cần có mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo có thời gian học tập, tu dưỡng trở thành người có ích sau này; đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo và bị hại kháng cáo cho rằng: mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên là quá cao so với hành vi của bị cáo; bị cáo phạm tội do nông nổi nhất thời và xin được xem xét do bị cáo đang nuôi con nhỏ.

Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện liên tục, kéo dài cả về không gian và thời gian, phát sinh từ ngày 10/12/2021 tại nhà của bị hại Lê Văn N1 đến nhà của bị hại Nguyễn Thị Mỹ H và sang đến ngày 11/12/2021 cả khi có lực lượng Công an xã Thới T đến xác minh sự việc thì bị cáo vẫn có hành vi ném điện thoại của bị hại xuống sông; chuỗi hành vi trên chứng tỏ không phải bị cáo chỉ nhất thời nóng giận mới thực hiện hành vi phạm tội mà thể hiện rõ bản chất cư xử của bị cáo khi giải quyết mâu thuẫn cá nhân, chưa kể giữa bị cáo và bị hại Lê Văn N1 còn mối quan hệ thân tộc.

Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn về hành vi thực hiện, lần đầu phạm vào tội có khung hình phạt đến 03 năm tù nên thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng, việc bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; xét tội phạm này không thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại nên tình tiết này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, hồ sơ vụ án không thể hiện vấn đề liên quan đến thai kỳ của bị cáo, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp Giấy chứng sinh thể hiện: sinh con vào ngày 07/9/2022 (với tình trạng mổ lấy thai, một bé trai cân nặng 3500 gram) tức là quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị cáo đang mang thai nên xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Song, việc bị cáo đang nuôi con nhỏ không là căn cứ để cho hưởng án treo. Trong khi, mức hình phạt 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và của bị hại Lê Văn N1. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Riêng, về điều kiện thực tế khi có căn cứ chứng minh bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì có quyền đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận (về hình phạt) nên bị cáo phải chịu, người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim N và bị hại Lê Văn N1.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới L, thành phố Cần Thơ.

2. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ: khoản 1 Điều 178; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Kim N 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

3. Căn cứ: khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Kim N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ