vanban.org

Bản án 71/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Lê Viết H2, sinh ngày 24/12/2011 và Nguyễn Lê Thảo H3, sinh ngày 24/11/2015 cho chị Lê Thị Ngọc H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; hiện nay cháu H2 và cháu H3 đang… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 03-8-2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thu Thảo và bà Lê Thị Đông Nguyệt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Lê Thị H1 – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 196/2022/TLST-HNGĐ ngày 16/5/2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/6/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 61/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/7/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn L.., xã B.., thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn L.., xã B.., thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2022 và ngày 12/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày được tóm tắt như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01/2010 ngày 07/12/2010. Quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H1 ham chơi cờ bạc gây nợ nần bên ngoài nên dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên hòa giải nhưng anh H1 vẫn không thay đổi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chị H xin được ly hôn với anh H1.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Lê Viết H2, sinh ngày 24/12/2011 và Nguyễn Lê Thảo H3, sinh ngày 24/11/2015. Hiện nay hai cháu đang sống với chị H. Ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị H xác định, chị H và anh H1 tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh H1; Về con chung: Giao 02 con chung cháu H2 và cháu H3 cho chị H nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét; Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01/2010 ngày 07/12/2010 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, theo nguyên đơn đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H1 ham chơi cờ bạc gây nợ nần bên ngoài nên dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ cho anh H1 để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh H1 không đến Tòa cũng như tại phiên tòa hôm nay anh H1 vẫn không có mặt. Như vậy cho thấy anh H1 không có thiện chí hòa giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh H1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh H1 có có 02 con chung tên là Nguyễn Lê Viết H2, sinh ngày 24/12/2011 và Nguyễn Lê Thảo H3, sinh ngày 24/11/2015. Hội đồng xét xử thấy rằng: hiện nay 02 cháu đang sống với chị H, vẫn đảm bảo cuộc sống về thể chất và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các cháu. Ngoài ra cháu H2 cũng có nguyện vọng xin được sống với mẹ. Do đó, cần tiếp tục giao cháu H2 và cháu H3 cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi hai con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Lê Viết H2, sinh ngày 24/12/2011 và Nguyễn Lê Thảo H3, sinh ngày 24/11/2015 cho chị Lê Thị Ngọc H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; hiện nay cháu H2 và cháu H3 đang sống với chị H.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi hai con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005281 ngày 12/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ