- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Thành N và bà Trần Kim H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HNGĐ-ST Ngày 11-8-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thống;
Ông Nguyễn Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 205/2022/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1965 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
- Bị đơn: Bà Trần Kim H, sinh năm 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 20/7/2022 nguyên đơn ông Nguyễn Thành N trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Trần Kim H tìm hiểu và đi đến hôn nhân từ năm 1992, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ thành hôn theo phong tục địa phương nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Khi thành hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tin tưởng nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân ngày càng không hạnh phúc. Hiện nay ông và bà H đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Do đó, ông N yêu cầu được xin ly hôn với bà Trần Kim H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Dương, sinh năm 1993 và Nguyễn Minh, sinh ngày 04/10/2005. Khi ly hôn Nguyễn Dương đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, Nguyễn Minh có nguyện vọng theo ai thì người đó nuôi dưỡng.
Cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 20/7/2022, bị đơn – bà Trần Kim H trình bày:
Về hôn nhân: Theo lời trình bày của ông N về thời gian kết hôn là đúng. Trong khoảng thời gian vợ chồng chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm mọi mặt trong cuộc sống, dẫn đến không hạnh phúc. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay nhưng không có cách hàn gắn hôn nhân. Nay ông N yêu cầu ly hôn thì bà H đồng ý ly hôn vì duy trì cũng không hạnh phúc.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Dương, sinh năm 1993 và Nguyễn Minh, sinh ngày 04/10/2005. Khi ly hôn Nguyễn Dương đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, Nguyễn Minh có nguyện vọng theo ai thì người đó nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Thành N yêu cầu ly hôn với bà Trần Kim H, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
-2-
Ông N và bà H có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh chị là đúng quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà H tự nguyện kết hôn năm 1992 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông N cho rằng phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cải, bất đồng trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, nên ông N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà H. Xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên tình nghĩa vợ chồng, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và chung sống với nhau nhưng từ năm 2014 đến nay ông N và bà H không còn chung sống với nhau. Tuy nhiên hôn nhân giữa ông N và bà H mặt dù sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 1 Điều 9 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Dương, sinh năm 1993 đã trưởng thành và Nguyễn Minh, sinh ngày 04/10/2005. Sau khi ly hôn ông N và bà H tôn trọng nguyện vọng của con, con theo ai thì người đó nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Tại đơn trình bày nguyện vọng cháu Nguyễn Minh có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Minh, sinh ngày 04/10/2005 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Ông N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Ông N và bà H không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-3-
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Thành N và bà Trần Kim H là vợ chồng.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Minh, sinh ngày 04/10/2005 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
4. Án phí hôn nhân gia đình ông N phải chịu 300.000 đồng, ông N đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0015682 ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn nay được chuyển thu, ông N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, vắng mặt tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Năm Căn; - CCTHADS huyện Năm Căn; - Đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. -4- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Khánh |