vanban.org

Bản án 71/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm G.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Bảo Vi, sinh ngày 02/06/2015 đến khi con đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "G khởi kiện ly hôn A, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm G.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 71/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
giữa chị G và anh Tuấn A”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng.

2. Bà Trần Ngọc Diệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Như Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2022/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1995;

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị G và anh Tuấn A vắng mặt (chị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2022, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 20/5/2022, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Cẩm G trình bày:

Năm 2014, chị và anh Tuấn A có tự nguyện kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, không có mâu thuẫn. Đến năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị xin ly hôn với anh Tuấn A.

Trong quá trình chung sống, chị và anh Tuấn A có một con chung là Nguyễn Thị Bảo Vi, sinh ngày 02/06/2015. Hiện tại, con đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng cho con.

Chị và anh Tuấn A không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Do bận công việc và ở xa nên chị yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Tuấn A đều vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến về tố tụng và về nội dung:

Vế tố tụng:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Về nội dung: Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm G. Cụ thể:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Bảo Vi, sinh ngày 02/06/2015 đến khi con đủ 18 tuổi.

Ghi nhận chị Nguyễn Thị Cẩm G không yêu cầu anh Nguyễn Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

Anh Tuấn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị G trình bày không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Cẩm G khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Tuấn A. Anh Nguyễn Tuấn A là bị đơn trong vụ án, cư trú tại xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Chị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị G.

Anh Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Tuấn A.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm G và anh Nguyễn Tuấn A chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên quan hệ hôn nhân của chị G và anh Tuấn A được xem là hợp pháp. Tuy nhiên, chị G cho rằng trong thời gian chung sống, anh Tuấn A không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị và anh Tuấn A đã không sống chung với nhau từ khoảng 02 năm nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh Tuấn A.

Sau khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của chị G, Tòa án đã tiến hành thông báo cho anh Tuấn A tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mục đích hòa giải cho chị G và anh Tuấn A đoàn tụ nhưng anh Tuấn A vắng mặt, không có ý kiến.

Qua xác minh, mẹ ruột của anh Tuấn A cho biết: nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị G và anh Tuấn A là do thiếu hụt về kinh tế. Chị G và anh Tuấn A đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, do kinh tế khó khăn nên cự cãi nhiều. Sau đó, chị G về nhà mẹ ruột của chị sống. Anh Tuấn A vẫn đi làm. Anh Tuấn A đồng ý ly hôn với chị G nhưng do đi làm xa nên không thể đến Tòa án để nêu ý kiến được.

Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị G và anh Tuấn A đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị G để giải quyết cho chị G được ly hôn anh Tuấn A.

Về con chung: Chị G khai chị và anh Tuấn A có 01 con chung tên Nguyễn Thị Bảo Vi, sinh ngày 02/06/2015, đang sống chung với chị G. Chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy con chung của chị G và anh Tuấn A chưa thành niên, hiện tại do chị G nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của con chung thì cần giao con chung cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” nhưng chị G không có yêu cầu anh Tuấn A cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị G trình bày chị và anh Tuấn A không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị G trình bày chị và anh Tuấn A không có nợ chung.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị G phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm G.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Bảo Vi, sinh ngày 02/06/2015 đến khi con đủ 18 tuổi.

Ghi nhận chị Nguyễn Thị Cẩm G không yêu cầu anh Nguyễn Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

Anh Tuấn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm G trình bày chị và anh Nguyễn Tuấn A không có tài sản chung, không có nợ chung.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007098 ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Chị G đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ