vanban.org

Bản án 71/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1.

Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H1 được ly hôn ông Võ Văn H2. Về con chung: giao cháu Võ Huy M (sinh ngày 29/3/2017) cho bà Lê Thị H1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "71-H1-H2"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-12-2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đăng Đúng.

2. Bà Nguyễn Thị Tàu.

- Thư ký phiên tòa: ông Dương Thiện Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Quỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên toà số: 73/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Lê Thị H1, sinh năm: 1993; HKTT: thôn PL, xã HT, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Hiện cư trú: thôn CP, xã HTĐ, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).

Bị đơn: ông Võ Văn H2, sinh năm 1978; Nơi cư trú: thôn PL, xã HT, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2022, tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn bà Lê Thị H1 trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: bà (Lê Thị H1) và ông Võ Văn H2 tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân và kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 do UBND xã HT, huyện (nay là thị xã) Đ cấp ngày 22/8/2016. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn, cuộc sống vợ chồng giữa bà H1 và ông H2 phát sinh mâu thuẫn. Sau khi bà H1 sinh con Võ Huy M thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, ông H2 thường xuyên uống rượu bia và đánh bà; đỉnh điểm là vào tháng 2/2018, ông H2 đánh bà và đuổi bà và con ra khỏi nhà. Bà H1 và cháu Võ Huy M về nhà ngoại (cha mẹ ruột bà H1) sống cho đến nay, ông H2 thường xuyên nhắn tin, gọi điện chửi bới, xúc phạm bà; mâu thuẫn giữa bà H1 và ông H2 đã được gia đình hai bên hàn gắn nhưng không thành. Nay, bà H1 xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đã sống ly thân từ tháng 2/2018 cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai, nên bà H1 xin được ly hôn ông Võ Văn H2.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Huy M, sinh ngày 29/3/2017, hiện đang sống với bà H1. Sau ly hôn, bà H1 yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: bà H1 không yêu cầu toà giải quyết.

4. Về nợ chung: không có, không yêu cầu toà giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn H2 đã được toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết nên không có lời trình bày.

Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lê Thị H1 được ly hôn ông Võ Văn H2; về con chung: giao con chung Võ Huy M, sinh ngày 29/3/2017 cho bà Lê Thị H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: bà Lê Thị H1 khởi kiện xin ly hôn ông Võ Văn H2 và giải quyết vấn đề về con chung. Ông H2 hiện đang cư trú tại thôn PL, xã HT, thị xã Đông Hòa. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.

Nguyên đơn bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông H2 đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H1 và ông Võ Văn H2 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã HT, thị xã Đ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 cấp ngày 22/8/2016, là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng giữa bà H1 và ông H2 đã rạn nứt trầm trọng, bà H1 xin ly hôn nhưng ông H2 vẫn bỏ mặc không quan tâm, không níu kéo để được hàn gắn. Điều này phù hợp theo Biên bản xác minh ngày 17/11/2022 được Uỷ ban nhân dân xã HT xác nhận “vợ chồng Võ Văn H2, Lê Thị H1 kết hôn nhưng từ trước tới nay không thấy bà Lê Thị H1 sống chung với ông Võ Văn H2 tại thôn PL, xã HT”, phù hợp theo lời trình bày của nguyên đơn “bà H1 bỏ về nhà của cha mẹ bà sống từ tháng 2/2018 cho đến nay, hai bên tự sống xa nhau”. Như vậy, đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ chồng giữa bà Lê Thị H1 và ông Võ Văn H2 không hạnh phúc, cả hai đã sống ly thân một thời gian dài không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà H1 và ông H2 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và tự sống xa nhau, không ai quan tâm đến ai nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị H1 được ly hôn ông Võ Văn H2 để đảm bảo cho các bên có cuộc sống riêng ổn định.

Về con chung: bà H1 và ông H2 có 01 con chung tên Võ Huy M, sinh ngày 29/3/2017, hiện đang sống với bà H1. Xét thấy, hiện nay bà H1 có đủ sức khỏe, đang là người trực tiếp nuôi cháu M, có thu nhập ổn định và có khả năng lo cho con. Ông H2 vắng mặt trong quá trình giải quyết, không tranh chấp và không có ý kiến gì về quyền nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H1, tiếp tục giao cháu M cho bà H1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về tâm sinh lý, cũng như thể chất cho cháu M.

Bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần cấp dưỡng nuôi con; ông H2 vắng mặt trong quá trình giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần cấp dưỡng nuôi con.

Ông H2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu toà giải quyết, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà H1 cho rằng không có, không yêu cầu toà giải quyết; bị đơn ông H2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bà H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H1.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H1 được ly hôn ông Võ Văn H2.

2. Về con chung: giao cháu Võ Huy M (sinh ngày 29/3/2017) cho bà Lê Thị H1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.1. Ông Võ Văn H2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2.2. Bà Lê Thị H1 và ông Võ Văn H2 có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: bà Lê Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0006381 ngày 01/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ