- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T1.
- Căn cứ chính? Điều 320 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16-9-2022 Về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Huy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham
gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C. Hội
đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục
rút gọn vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 110/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng
7 năm 2022, về: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”
theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng
9 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T1, sinh năm: 1988
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1987
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn
xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/6/2022, bản tự khai ngày 08/8/2022, nguyên đơn chị Lê Thị T1 trình bày: Theo Quyết định số 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định anh Nguyễn Ngọc T2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Phương Thảo, sinh ngày 19/12/2015, thời điểm đó chị không đủ điều kiện nuôi con nên giao con cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên sau khi Tòa án giải quyết ly hôn và giao con cho anh T2 nuôi dưỡng, thì ban ngày chị T1 là người trực tiếp đưa đón con đi học. Hiện nay chị có nhà cửa ổn định, điều kiện vật chất đầy đủ, tính chất công việc có thời gian chăm sóc con tốt hơn, trong khi đó anh T2 là bộ đội, tính chất công việc gò bó về thời gian, nếu anh T2 công tác thì con không được chăm sóc đầy đủ, cháu đang là bé gái trong độ tuổi lớn cần sự chăm sóc của chị và đang sinh sống cùng chị. Do đó, chị yêu cầu được trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Phương Thảo, sinh ngày 19/12/2015 và không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai ngày 05/9/2022, bị đơn anh Nguyễn Ngọc T2 trình bày:
Về con chung đúng như chị T1 trình bày. Anh không đồng ý thay đổi người trực tiếp nuôi con. Lâu nay anh là người chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thảo, trong quá trình chăm nuôi con anh có nhờ chị T1 là mẹ cháu trông giữ. Hiện nay anh không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, nếu chị T1 có điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì nhờ chị T1 trông giữ con thay anh trong thời gian tới.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị T1 yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Yêu cầu của chị T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, xét thấy vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, các đương sự có nơi cư trú ổn định. Tài liệu chứng cứ đầy đủ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ nên Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.
Anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 320 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Theo Quyết định số 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định anh Nguyễn Ngọc T2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Phương Thảo, sinh ngày 19/12/2015. Chị T1 có đơn yêu cầu chị là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Phương Thảo, sinh ngày 19/12/2015 và không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, trên cơ sở các tài liệu chứng cứ về điều kiện trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và các lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Cháu Thảo hiện nay còn nhỏ và đang được chị T1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị T1 có đủ điều kiện về thời gian, vật chất, nơi ở ổn định để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Phương Thảo, sinh ngày 19/12/2015 tốt hơn anh Nguyễn Ngọc T2, hơn nữa anh T2 là bộ đội khó đảm bảo điều kiện để tiếp tục trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Căn cứ Điều 81, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình nên yêu cầu của chị T1 là có cơ sở nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T1 về việc không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Chị Lê Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 320, Điều 321 và Điều 322 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T1.
1. Chị Lê Thị T1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Lê Phương Thảo, sinh ngày 19/12/2015. Anh Nguyễn Ngọc T2 tạm thời không cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con, chị T1 và anh T2 hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
2. Về án phí: Chị Lê Thị T1 nộp 150.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo thủ tục rút gọn về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T1 đã nộp là 150.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0007187 ngày 15/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Chị Lê Thị T1 đã nộp đủ.
Quy định: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T1 có quyền kháng cáo trong hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Nguyễn Ngọc T2 có quyền kháng cáo trong hạn 07 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa - VKSND thành phố C - Chi cục THADS thành phố C - Các đương sự - Lưu hồ sơ, án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Huy |