- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 206 Luật tố tụng hành chính;
- Căn cứ chính? Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2022/HC-ST Ngày: 26-8-2022 “V/v: Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hòa và ông Lê Ngọc Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Thị Minh Hiền- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Trần Văn Bắc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 42/2022/TLHC-ST ngày 30/3/2022 về việc “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HC ngày 21 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Mai Thị Ngọc A, sinh năm 1995; địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt (Văn bản ủy quyền ngày 18/4/2022).
2. Người bị kiện:
2.1 Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Y G – C/v: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2022), có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
Ông Trần Văn S - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Lắk, vắng mặt.
Ông Nguyễn Anh T – Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2.2 Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đại T1 – C/v: Phó chủ tịch UBND thành phố B ( Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2022), có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Văn T2 – C/v: Phó giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T2 – Phó Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 02/6/2022, vắng mặt.
3.2 Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977
3.3 Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1980
3.4 Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1983;
3.5 Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992;
3.6 Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1992;
3.7 Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1996.
Cùng địa chỉ: Xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T3, ông T4, ông T5, bà H1, bà L, bà T6: Bà Mai Thị Ngọc A, sinh năm 1995; địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 05/7/2022), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Bà Mai Thị Ngọc A - Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Văn H; đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T4, ông Nguyễn Văn T5, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị T6 trình bày:
Bố mẹ ông H là ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị L1 là chủ sử dụng lô đất tại xã H, thành phố B, diện tích: 1410 m2 (trong đó 400 m2 đất ở), thửa đất số 373, tờ bản đồ số 7 (hiện là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 59-1), thuộc giấy CNQSDĐ số BP 206549 do UBND thành phố B cấp ngày 30/10/2013 cấp cho ông B, bà L1.
Ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị L1 có với nhau 7 người con chung là: Ông Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T6.
Năm 2017, 2018 thì ông B, bà L1 mất, nên các con trong gia đình là người thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng đất nêu trên. Ông H là người đại diện cho các anh chị em trong gia đình thực hiện khai nhận, phân chia di sản thừa kế cũng như đại diện giải quyết các vấn đề liên quan đến lô đất (Theo Giấy ủy quyền ngày 28/06/2021, số chứng thực: 122/Quyển số 01/2021-SCT/CK, ĐC).
Hiện nay, lô đất nêu trên bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường Đại lộ Đông Tây, thành phố Buôn Ma Thuột theo Quyết định thu hồi đất số 7982/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B. Tuy nhiên, phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất lại không thỏa đáng, có nhiều sai phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, cụ thể các vấn đề sau:
1. Sai về giá đất bồi thường:
UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 1600/QĐ- UBND ngày 01/07/2021 về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường đại lộ Đông Tây, thành phố B nhưng quyết định này sai vì:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk v/v ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và Điều 18 Nghị định 44/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về giá đất thì phải khảo sát giá thị trường và giá đất nhà nước tại thời điểm thu hồi để làm căn cứ tính hệ số điều chỉnh giá. Tuy nhiên, ở đây hoàn toàn không có sự so sánh giữa giá đất thị trường và giá đất nhà nước để đưa ra hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, mà lại so sánh giữa giá đất nhà nước giai đoạn năm 2014-2016 theo Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk , 01 quyết định đã hết hiệu lực với giá đất nhà nước giai đoạn 2020-2024 theo Quyết định số 22/2020/QĐ-UBND ngày 03/07/2020 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành Bảng giá và quy định Bảng giá các loại đất áp dụng trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2020-2024.
Như vậy, căn cứ vào phương pháp xác định hệ số điều chỉnh giá đất tại Quyết định số 1600 của UBND tỉnh Đắk Lắk hoàn toàn sai quy định pháp luật, kéo theo Quyết định số 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B kèm theo bảng tính kinh phí bồi thường cho hộ dân cũng bị sai nghiêm trọng, giá đất bồi thường quá thấp, không chính xác, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình ông H, do đó cần phải hủy Quyết định số 1600/QĐ-UBND ngày 01/07/2021 và Quyết định số 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B để xây dựng lại bảng giá đất bồi thường cho chính xác và thỏa đáng.
2. Các khoản hỗ trợ khác:
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013, khi Nhà nước thu hồi đất phải hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, theo quy định của UBND tỉnh thì số tiền hỗ trợ bằng 2 lần giá đất diện tích nông nghiệp bị thu hồi nhưng gia đình ông H chỉ được hỗ trợ mức 1,5 lần là sai lầm nghiêm trọng.
Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, quá trình thu hồi đất và bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường Đại lộ Đông Tây, thành phố B có quá nhiều sai phạm, gây thiệt hại nặng nề cho gia đình ông H nên ông H đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đề nghị Tòa án xét xử, tuyên:
- Hủy bỏ Quyết định số: 1600/QĐ- UBND ngày 01/07/2021của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường đại lộ Đông Tây, thành phố B;
- Hủy Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B. Đối với yêu cầu khởi kiện này, nay ông H xin thay đổi lại như sau: Hủy một phần Quyết định số 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B.
* Ông Y G - Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk trình bày:
1. Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 1600/QĐ-UBND
Đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục thực hiện xác định giá đất cụ thể theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số: 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất; Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất; Thông tư số 87/2016/TTLT-BTNMT-BTC ngày 22/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính - Bộ trưởng Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thẩm định dự thảo bảng giá đất của Hội đồng thẩm định bảng giá đất, thẩm định phương án giá đất của Hội đồng thẩm định giá đất; Thông tư số 33/2017/TT BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, với thành phần hồ sơ để ban hành Quyết định số: 1600/QĐ-UBND gồm có:
- Tờ trình số: 70/TTr-UBND ngày 19/4/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất đã được UBND tỉnh phê duyệt tại các Quyết định để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường Đông Tây, thành phố B(địa bàn xã H).
- Báo cáo Thuyết minh số: 131/BC-UBND ngày 19/4/2021 của UBND - thành phố B về việc xác định điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất đã được UBND tỉnh phê duyệt tại các Quyết định để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường Đông Tây, thành phố B (địa bàn xã H).
- Phương án giá đất số: 45/PAGĐ-UBND ngày 19/4/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường Đông Tây, thành phố B.
- Công văn số: 1297/STNMT-QLĐĐ ngày 24/5/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường về đề nghị thẩm định điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo đề nghị của thành phố B.
- Báo cáo Thẩm định số: 1641/HĐTĐGĐ ngày 14/6/2021 của Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh về việc thẩm định phương án giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Đường Đông Tây, xã H, thành phố B.
- Tờ trình số: 239/TTr-STNMT ngày 21/6/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án : Đường Đông Tây, thành phố B (địa bàn xã H).
Việc ban hành Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 đã đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền thực hiện xác định giá đất cụ thể theo quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Giá đất áp dụng để tính tiền bồi thường về đất được phê duyệt tại Quyết định số 1600/QĐ-UBND được căn cứ theo kết quả điều tra, khảo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường do các phòng ban chuyên môn của UBND thành phố B phối hợp với UBND xã H thực hiện vào thời điểm tháng 3 năm 2021.
Hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án: Đường Đông Tây, thành phố B (địa bàn xã H) ban hành kèm theo Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk được tính trên giá đất theo quy định tại Quyết định số: 22/2020/QĐ-UBND ngày 03/7/2020 của UBND tỉnh phù hợp với kết quả điều tra khảo sát giá đất thị trường.
Từ các căn cứ nêu trên, việc khởi kiện đề nghị hủy bỏ Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 là không có cơ sở. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bác đơn kiện của ông Nguyễn Văn H về việc hủy Quyết định 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021.
* Ông Lê Đại T1 - Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố B trình bày:
1. Căn cứ pháp lý:
Căn cứ Công văn số: 190/UBND-CN ngày 15/01/2009 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc giải phóng mặt bằng công trình đường giao thông từ ngã ba LD – ĐTH đến Cảng hàng không B;
Căn cứ Quyết định số: 3188/QĐ-UBND ngày 30/12/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Đường Đông Tây thành phố B;
Căn cứ Công văn số: 33/TTg-KTTH ngày 08/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc vốn thực hiện dự án tuyến đường trục Đông – Tây thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Thực hiện Quyết định số: 1898/QĐ-UBND, ngày 07/4/2015 của UBND thành phố B “Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường GPMB để triển khai dự án: Đường Đông Tây thành phố B và Tiểu dự án B - Dự án phát triển các thành phố loại 2 Quảng Nam, Hà Tĩnh và Đắk Lắk;
Quyết định số: 1752/QĐ-UBND ngày 9/7/2015 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc ủy quyền thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức; phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phạm vi xây dựng công trình Đường Đông Tây, thuộc địa bàn thành phố B;
Quyết định số: 22/2020/UBND ngày 03/7/2020 của UBND tỉnh Đăk Lăk v/v ban hành quy định bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B (địa bàn xã H).
Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B.
1. Đối với đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H: Khởi kiện hành chính về việc bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B. Tôi có ý kiến như sau:
1.1 Về đơn giá bồi thường:
Về đất:
+ Các hộ dân sử dụng đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng đủ điều kiện cấp giấy và các hộ đã được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận QSD đất thì đủ điều kiện được bồi thường về đất theo Khoản 1, Điều 75 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013.
Áp dụng Quyết định số: 22/2020/UBND ngày 03/7/2020 của UBND tỉnh Đắk Lắk v/v ban hành quy định bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố Buôn Ma Thuột (địa bàn xã H).
Về vật kiến trúc:
- Đối với nhà và vật kiến trúc không phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình cá nhân xây dựng trên đất nông nghiệp được hỗ trợ bằng 100% đối với trường hợp xây dựng trước ngày 01/7/2004; hỗ trợ 60% đối với trường hợp xây dựng từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014; hỗ trợ 30% đối với trường hợp xây dựng từ ngày 01/7/2014 đến trước ngày có thông báo thu hồi đất theo giá trị còn lại.
Về cây trồng:
- Đối với các loại cây trồng trước thông báo thu hồi đất, trồng đúng mật độ trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất thì được bồi thường 100% đơn giá. Cây trồng xen tính bằng 80% đơn giá của cây trồng cùng chủng loại và vượt mật độ đến 50% được hỗ trợ 60% đơn giá cây trồng cùng loại; số cây vượt mật độ từ trên 50% đến 100% được hỗ trợ 30% đơn giá cây trồng cùng loại; số cây trồng vượt mật độ trên 100% không được bồi thường và theo thời điểm sử dụng đất (Căn cứ Quyết định số: 10/2020/QĐ-UBND ngày 13/4/2020 của UBND tỉnh Đắk Lắk và căn cứ Mục 5 khoản 9 Điều 1, Quyết định số: 27/2019/QĐ-UBND ngày 19/12/2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk).
1.2 Về chính sách hỗ trợ:
Căn cứ Khoản 2 Điều 6 Thông tư số: 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Căn cứ Điều 17, 18, 19 Quyết định số: 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 và Điều 3, 4 Quyết định số: 22/2017/QĐ-UBND ngày 24/7/2017 của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Đối với chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm:
Những người thừa kế của hộ ông Nguyễn Văn B - bà Ngô Thị L1 có thành viên là cán bộ, công chức, viên chức và có nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng. Căn cứ Điểm C, Khoản 2, Điều 19 Quyết định số: 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk “ Đối với mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: được tính bằng tiền, tính trên diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi với mức hỗ trợ bằng 1,5 (một phẩy năm) lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành”.
UBND thành phố B đã thực hiện đúng quy trình, đúng với Điều 82 Luật Đất đai số: 45/QH13 ngày 29/11/2013 khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B.
Từ những căn cứ trên. Tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.
* Ông Phạm Văn T2 - Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B; đồng thời là người bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị kiện UBND thành phố B trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của UBND thành phố B. Việc UBND thành phố B ban hành Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B khi thu hồi đất của ông B, bà L1 (người đại diện ông Nguyễn Văn H) đã thực hiện đúng quy trình, đúng với Điều 82 Luật Đất đai số 45/QH13 ngày 29/11/2013. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H là không có căn cứ. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc:
Hủy Quyết định số 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường đại lộ Đông Tây, thành phố B;
Hủy một phần Quyết định số 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND Tp B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn H để xây dựng công trình đường Đông Tây, thành phố B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm ông Y G là người đại diện theo ủy quyền của UBND tỉnh Đắk Lắk, ông Lê Đại T1 là người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND thành phố B, ông Nguyễn Anh T là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND tỉnh Đắk Lắk có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phạm Văn T2 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố B đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B, ông Trần Văn S là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND tỉnh Đắk Lắk mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường đại lộ Đông Tây, thành phố B; hủy một phần Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B, buộc UBND các cấp có thẩm quyền ban hành các quyết định mới theo quy định của pháp luật.
Xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và còn trong thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 3, 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung:
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường đại lộ Đông Tây, thành phố B; UBND thành phố B ban hành Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn H để xây dựng công trình: Đường Đông Tây, thành phố B địa bàn xã H, thành phố B là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của hộ gia đình ông Nguyễn Văn H yêu cầu hủy bỏ Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường đại lộ Đông Tây, thành phố B thấy rằng:
Việc Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 đã đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền, thực hiện xác định giá đất cụ thể theo quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Giá đất áp dụng để tính tiền bồi thường về đất được phê duyệt tại Quyết định số: 1600/QĐ- UBND được căn cứ theo kết quả điều tra, khảo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường do cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Người khởi kiện cho rằng Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành giá đất bồi thường không đúng quy định của pháp luật là không có căn cứ để chấp nhận. Hơn nữa, hiện nay Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã hết hiệu lực từ ngày 30/6/2022 nên không còn giá trị pháp lý. Do đó, cần bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chinh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường đại lộ Đông Tây, thành phố B.
Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H yêu cầu hủy một phần Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với gia đình ông H để thực hiện dự án đường Đông Tây, thành phố B.
Ông Nguyễn Văn H cho rằng theo quy định tại Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013, khi nhà nước thu hồi đất phải hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, theo quy định của UBND tỉnh thì số tiền hỗ trợ bằng 2 lần giá đất diện tích nông nghiệp bị thu hồi nhưng gia đình ông H chỉ được hỗ trợ mức 1,5 lần là chưa đúng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm thì những người thừa kế của hộ ông Nguyễn Văn B - bà Ngô Thị L1 có thành viên là cán bộ, công chức, viên chức (anh Nguyễn Văn T3 là viên chức, chị Nguyễn Thị L2 là giáo viên ) và có nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng. Theo quy định tại điểm C, Khoản 2, Điều 19 Quyết định số: 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk “ Đối với mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: được tính bằng tiền, tính trên diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi với mức hỗ trợ bằng 1,5 (một phẩy năm) lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành”. Do vậy, UBND thành phố B hỗ trợ cho gia đình ông H với mức hỗ trợ 1,5 lần là đúng quy định của pháp luật. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của ông H là không có căn cứ để chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy cần bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc:
Hủy Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường đại lộ Đông Tây, thành phố B;
Hủy một phần Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với gia đình ông H để thực hiện dự án đường Đông Tây, thành phố B.
Về án phí hành chính sơ thẩm: Do không được chấp nhận đơn khởi kiện nên ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật. UBND thành phố B không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 206 Luật tố tụng hành chính;
Áp dụng khoản 3 Điều 69, Điều 74, Điều 75, Điều 85 Luật Đất đai 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP về Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; điểm C, Khoản 2, Điều 19 Quyết định số: 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk; Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc:
Hủy Quyết định số: 1600/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường đại lộ Đông Tây, thành phố B;
Hủy một phần Quyết định số: 7998/QĐ-UBND ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với gia đình ông H để thực hiện dự án đường Đông Tây, thành phố B.
[2] Về án phí hành chính sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp (ông Võ Trường G nộp thay) theo biên lai số AA/2021/0018992 ngày 29/3/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[3] Về quyền kháng cáo: Người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án Hành chính sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án Hành chính sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Hằng |