- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc Dung - phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 71/2021/HS - ST Ngày: 17– 3 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhật Quang;
2. Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1970 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 38 khu phố NT, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết); bị cáo chưa có chồng con.
Tiền sự: Theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 217/QĐ-XPHC ngày 29/6/2020 của Công an phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, thực hiện xong ngày 30/6/2020.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Trịnh Thị Cẩm L, sinh năm 1985; trú tại: 30C khu phố DB, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thúy D, sinh năm 1982; trú tại: Ấp CL, xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ông Lê Thanh T, sinh năm 1987; trú tại: Ấp Chánh CL, xã Phú Chánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1970; trú tại: Ấp PT, xã Phú Chánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 12/8/2020, Nguyễn Thị Ngọc D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila màu đen biển số 61E1-308.26 đến khu vực chợ nhỏ thuộc khu phố ĐB, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt.
Khi đi ngang qua cửa hàng tạp hóa tại địa chỉ 42D khu phố ĐB, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy bà Trịnh Thị Cẩm L đang dựng xe mô tô Honda Lead trước tiệm tạp hóa rồi đi vào trong mua đồ, trong hộc bên trái phía trước xe mô tô của bà L có để một chiếc điện thoại hiệu Samsung J7 Pro màu xanh. Dung quan sát xung quanh không có người để ý nên đã dừng xe rồi đi bộ đến sát chiếc xe của bà Ly và lén lút dùng tay lấy chiếc điện thoại của bà Ly. Sau khi lấy được điện thoại, Dung lên xe điều khiển xe mô tô chạy khoảng 200m bán chiếc điện thoại vừa lấy cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, địa chỉ) đang ngồi trên xe mô tô bên lề đường với giá 600.000 đồng.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/8/2020, Dung tiếp tục đi đến khu vực chợ nhỏ ở khu phố Đông Ba, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An để trộm cắp tài sản thì bị ông Phan Thanh H là chủ tiệm tạp hóa phát hiện ra D là người trộm cắp tài sản của bà L do sau khi bà L mất trộm tài sản đã nhờ ông H trích xuất camera kiểm tra và phát hiện D là người đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà L vào ngày 12/8/2020 nên đã trình báo Cơ quan công an giải quyết.
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi và giao nộp số tiền 600.000 đồng. Mặt khác, ngày 23/6/2020 bị cáo D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 29/6/2020 Công an phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương ra quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng.
Theo biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản ngày 01/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An xác định chiếc điện thoại Samsung J7 Pro màu xanh trị giá 1.600.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-TA ngày 07/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D về tội trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 61E1-308.26 qua điều tra xác định do bà Phạm Thúy D đứng tên chủ sở hữu, năm 2018 bà Th đã bán lại cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên đổi chủ theo quy định. Bị cáo khai mua chiếc xe trên từ một người đàn ông không rõ nhân thân, địa chỉ với giá 2.500.000 đồng, hai bên chỉ giao tiền và nhận xe cùng giấy đăng ký xe. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Do đó, đề nghị giao Hội đồng xét xử cho Công an thành phố Thuận An tiếp tục truy tìm chủ sở hữu hợp pháp và xử lý theo thẩm quyền.
- Đối với người đàn ông mua chiếc điện thoại từ bị cáo do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số tiền 600.000 đồng có được từ việc phạm tội, đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 12/8/2020, tại địa chỉ: 42D khu phố ĐB, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, lợi dung việc sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Samsung J7 Pro màu xanh trị giá 1.600.000 đồng của bà Trịnh Thị Cẩm L. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện vi phạm phạm tội nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, lười biếng lao động nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại mà bị cáo đã chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông mua điện thoại từ bị cáo Dung, do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với với tiền 600.000 đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 61E1-308.26 qua điều tra xác định do bà Phạm Thúy D đứng tên chủ sở hữu. Bà D đã bán lại cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên đổi chủ theo quy định. Bị cáo khai mua chiếc xe trên từ 01 người đàn ông không rõ nhân thân, địa chỉ với giá 2.500.000 đồng, hai bên chỉ giao tiền và nhận xe cùng giấy đăng ký xe. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Do đó cần giao chiếc xe trên cho Công an thành phố Thuận An tiếp tục truy tìm chủ sở hữu hợp pháp và xử lý theo thẩm quyền là phù hợp theo quy định pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi ngày 27/01/2021.
- Giao chiếc xe mô tô 02 bánh biển số 61E1-308.26, nhãn hiệu Attila, màu đen, số loại Victoria, số khung RLGH125GD7D 036942; số máy: VMM9BE-D 036942 (xe không chìa khóa, không kiếng) cho Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra truy tìm chủ sở hữu và giải quyết theo thẩm quyền.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/01/2021).
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Khánh Linh |