vanban.org

Bản án 71/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 15/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 3 năm 2021).

3/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn Q1 09 ( chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án ( ngày 15/7/2021) về tội “Trộm cắp tài sản”. G… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Q cùng đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? 2/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 3 năm 2021).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ Đ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2021/HS-ST
Ngày 15 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ, TỈNH QUẢNG NINH

- Với tH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Xuân Giới.

2. Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh tiến H1nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2021/TLST - HS ngày 02 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2021/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với:

* Các bị cáo:

1/ Nguyễn Đức Q (tên gọi khác: Q Híp), sinh ngày 03/7/1989 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Khu YS, phường YT, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức D ( đã chết) và bà Ngô Thị H; Có vợ là Lý Thị H, sinh năm 1991, có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/5/2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”, bị cáo Q đã chấp hành xong bản án từ ngày 21/01/2018; Ngày 04/9/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức Q, Q chưa chấp hành Quyết định này.

Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 05 tháng 3 năm 2021; Bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 3 năm 2021, bị tạm giam từ ngày 11/3/2021 (hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Đ). Có mặt.

2/ Vũ Hồng H, sinh ngày 03/7/1996 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Khu YS, phường YT, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Mạnh H và bà Bùi Thị N; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Tháng 9/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ xử phạt 06 tháng tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án từ ngày 12/01/2018;

Bị cáo đầu thú ngày 05 tháng 3 năm 2021; Bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 3 năm 2021, bị tạm giam từ ngày 11/3/2021 (hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh). Có mặt.

3/ Ngô Văn Q1, sinh ngày 02/01/1994 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đình C (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Có vợ là Đỗ Thị X, sinh năm 1996, có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 05 tháng 3 năm 2021; Bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 3 năm 2021, bị tạm giam từ ngày 11/3/2021. Đến ngày 19/5/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Bị hại: Ông Nguyễn Đông H; sinh năm 1970; Nơi cư trú: Khu T, phường YT, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

* Người có Q1 lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Phùng Tử Đ; sinh năm 1959; Nơi cư trú: Tổ 7, khu Q Trung, phường MK, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2/ Ông Lê Văn T; sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ 1, khu HB, phường MK, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

3/ Bà Nguyễn Thị D; sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1/ Anh Lê Sơn H; sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2/ Bà Lê Thị D; sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu Yh, phường YT, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

3/ Bà Bùi Thị N; sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khu YS, phường YT, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết từ trước, Ngô Văn Q1 biết Nguyễn Đức Q là đối tượng hay đi trộm cắp cây hoa và cây cảnh bán, nên cuối tháng 12/2020 và ngày 31/12/2020, khi nói chuyện và nhắn tin qua điện thoại với Q, Q1 đã nói với Q việc Q1 đang có nhu cầu chơi cây mai, Q hiểu ý của Q1 là nếu trộm cắp được cây mai thì mang bán cho Q1, nên Q trả lời “Vâng, nếu có em chở xuống”.

Khoảng 20 giờ ngày 04/3/2021, trong lúc Vũ Hồng H và Vũ Q H ngồi chơi cùng Q tại nhà Q, Q đã nói cho H1 và H về việc Q1 đang có nhu cầu mua cây hoa mai nên cả ba bàn nhau đi trộm cắp cây cảnh. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius (không gắn biển kiểm soát) của H1 chở H1 và H đi lòng vòng qua các khu dân cư để tìm nhà nào có cây hoa mai để trộm cắp.

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 05/3/2021, cả 3 đến khu vực gần nhà nghỉ Đông Dương, thuộc khu T, phường YT, thị xã Đ, H phát hiện trong khu vườn của gia đình anh Nguyễn Đông H, sinh năm 1970, trú khu T, phường YT, thị xã Đ đối diện nhà nghỉ có 02 cây mai (loại mai vàng Yên Tử, có chu vi gốc lần lượt là: 26 cm và 22 cm) được trồng trong 02 (hai) chậu lục lăng đặt ở hai bên cột trụ phía trong cổng sắt (khu vườn có tường rào xây bao quanh bằng gạch và cổng sắt có khóa) nên bảo Q và H1 vào trộm cắp.

Q dừng xe ở ngoài cảnh giới, còn H1 và H trèo qua bờ tường vào trong khu vườn, cả 2 cùng nhau nhổ lần lượt từng cây ra khỏi chậu rồi dỡ bỏ đất bầu ở gốc cây sau đó khiêng để cạnh bờ tường, rồi H1 trèo lên trên bờ tường, H đứng dưới đưa lần lượt đưa từng cây hoa mai cho H1 ở trên bờ tường đỡ để đưa qua bờ tường ra ngoài. Sau đó cả 2 khiêng 2 cây hoa mai trên để lên xe do Q điều khiển, H1 ngồi sau giữ, còn H đi bộ về nhà Q.

Khoảng 03 giờ cùng ngày, Q và H1 chở cây hoa mai đến nhà Q1, Q1 đồng ý mua với giá 4.500.000 đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Vì không có tiền mặt nên Q và H1 cho Q1 số tài khoản của chị Lê Thị D, sinh năm 1983, trú khu YH, phường YT (là người làm dịch vụ nhận chuyển tiền qua tài khoản). Ngay sau đó Q1 đã chuyển số tiền 4.500.000đ cho Q qua tài khoản của chị Duyến. Sau đó Q và H1 đến nhà chị Duyến để nhờ chị Duyến lấy số tiền trên. Chị Duyến đồng ý và trừ của Q tiền lệ phí là 100.000đ rồi lấy 4.400.000 đưa cho Q; Trên đường về nhà, Q và H1 gặp H đang đi bộ nên H lên xe đi cùng Q và H1 về nhà Q, Q chia cho H1 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), cho H 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) bản thân Q cầm 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền còn lại 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đưa cho H1 đổ xăng xe. Sau đó, Q có gọi điện cho Q1 xin thêm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thì Q1 đồng ý và tiếp tục chuyển số tiền trên qua tài khoản của chị Duyến. Khoảng 06 giờ cùng ngày, Q đến nhà chị Duyến và rút số tiền trên, sau khi trừ 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng) tiền lệ phí, Q được chị Duyến đưa cho 270.000 đ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, do hành vi của mình bị phát giác nên H1 đã đến Công an phường MK đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp số tiền 1.500.000đ

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đức Q, Ngô Văn Q1.

Quá trình bắt giữ và khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Văn Q1, Cơ quan điều tra thu giữ 02 (hai) cây hoa mai (loại mai vàng Yên Tử); 01 (một) cây hoa giấy, loại có hoa màu đỏ, cao 160 cm, có chu vi gốc cây 39cm, đường kính tán 160 cm; 01 (một) cây hoa giấy, loại có hoa màu đỏ, cao 197 cm, có chu vi gốc cây 29 cm, đường kính tán 120 cm; 01 (một) cây hoa giấy, loại có hoa màu đỏ, cao 95 cm, có đường kính gốc cây 12 cm, đường kính tán 105 cm; 01 (một) cây hoa giấy, loại có hoa màu đỏ, cao 02m, có chu vi gốc cây 14 cm, đường kính tán rộng 115 cm; 01 (một) cây hoa mai vàng, loại hoa bonsai (thân cây uốn cong), cao 90 cm, có chu vi gốc cây 15cm, đường kính tán 80 cm; 01 (một) loa thùng dạng loa siêu trầm hiệu Yamaha SB- M – 800II (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động iphone X màu trắng;

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn tạm giữ của Vũ Hồng H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, không có biển kiểm soát, số khung: RLCUE3740LY078121, số máy: E32VE274382; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9; tạm giữ của Nguyễn Đức Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Dous.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL - HĐĐGTS ngày 08/3/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ, kết luận: 01 (một) cây hoa mai, loại mai vàng Yên Tử có chu vi gốc cây: 26 cm, đường kính thân cây: 07 cm, cao 3,1m, đường kính tán rộng nhất là 1,65m, hiện trên cây có nhiều lá non và hoa mai năm cánh màu vàng, phần rễ bị nhổ, trơ bộ rễ, không còn đất bầu có giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng); 01 cây hoa mai loại mai vàng Yên Tử có chu vi gốc cây: 22cm, đường kính thân cây: 06 cm, cao 2,9m, đường kính tán rộng nhất là 2,3m, hiện trên cây có nhiều lá non và hoa mai năm cánh màu vàng, phần rễ bị nhổ trơ bộ rễ, không còn đất bầu có giá: 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Tổng giá trị của hai cây mai là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 70/CT - VKS - ĐT ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: Vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

1/ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 3 năm 2021).

2/ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng H từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 3 năm 2021).

3/ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn Q1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án ( ngày 15/7/2021) về tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Ngô Văn Q1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Q1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; các điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Duos thu của bị cáo Q; 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng thu của bị cáo Q1.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Hồng H 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9, màu đỏ thu của bị cáo H1.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000đ, bị cáo H1 tự nguyện giao nộp do phạm tội mà có.

- Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.490.000đ đối với bị cáo Q và 90.000đ đối với bị cáo H1 do phạm tội mà có.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm Q1, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ đã truy tố:

* Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 đều khai nhận:

Ngô Văn Q1 quen biết Nguyễn Đức Q từ trước, biết Q là đối tượng nghiện ma túy, nghiện chơi game, thường xuyên đi trộm cắp tài sản để đem bán nên Q1 đã thỏa thuận với Q, nếu Q lấy trộm được cây hoa Mai và hoa Giấy thì Q1 sẽ mua của Q.

Khoảng 19 giờ ngày 04/3/2021, Vũ Q H, Vũ Hồng H đi xe mô tô của H1 đến nhà Q chơi, sau đó cả ba đã rủ nhau đi trộm cắp cây hoa Mai gần nhà nghỉ Đông Dương thuộc khu T, phường YT, thị xã Đ để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 0h ngày 05/3/2021, Q chở H, H1 đến vườn cây nhà anh Nguyễn Đông H, gần nhà nghỉ Đông Dương, thống nhất Q sẽ ở bên ngoài cảnh giới, còn H và H1 sẽ trèo qua bờ tường vào trộm cắp. Khoảng 30 phút sau, H và H1 đã đưa được 02 cây hoa Mai ra khỏi vườn, Q chở H1 ngồi sau giữ hai cây hoa Mai đem đến nhà Q1 để bán, còn H đi bộ phía sau. Khi đến nhà Q1, Q1 chỉ đồng ý mua với giá 4.500.000đ, Q nhất trí. Do không có tiền mặt nên H1 bảo Q1 chuyển tiền vào số tài khoản của chị Lê Thị D ( người làm dịch vụ cho rút tiền), sau đó Q và H1 đến nhà chị Duyến rút tiền và bị chị Duyến trừ 100.000đ tiền dịch vụ, chị Duyến đưa lại cho H1 4.400.000đ. Rồi Q, H1 đi đón H về nhà Q, tại đây H1 đã đưa cho Q 1.400.000đ; đưa cho H 1.500.000đ; H1 cầm 1.500.000đ, sau đó Q tiếp tục gọi điện cho Q1 xin thêm 300.000đ tiền bán hai cây hoa Mai, Q1 đồng ý và chuyển vào số tài khoản của chị Duyến, Q đến nhà chị Duyến rút 300.000đ nhưng chị Duyến trừ 30.000đ tiền dịch vụ nên đưa lại cho Q 270.000đ, Q chia đều cho 3 người, mỗi người 90.000đ. Sau khi biết hành vi của mình không thể che giấu, H1 đã đến Công an phường MK đầu thú, khai báo toàn bộ nội dung sự việc và tự nguyện giao nộp số tiền 1.500.000đ.

Ngoài ra các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 còn khai nhận: Vào khoảng tháng 2 năm 2021, còn có hành vi trộm cắp 02 cây hoa Giấy của gia đình ông Phùng Tử Đ, Lê Văn T và đem bán cho Ngô Văn Q1 được tổng số tiền 1.600.000đ, Q, H1 chia nhau mỗi người 800.000đ, số tiền trên Q và H1 đã chi tiêu hết.

* Người bị hại ông Nguyễn Đông H có lời khai thể hiện: Ông mua hai cây hoa Mai (loại Mai vàng Yên Tử) vào cuối năm 2019 tại xã B, thị xã Đ với giá 18.000.000đ. Sau đó được ông đem về trồng vào hai chậu cây để trong vườn nhà. Khoảng 06 giờ ngày 05/3/2021, ông mở cổng đi làm thì phát hiện hai cây hoa Mai đã bị kẻ gian nhổ trộm mất, ông có quan sát hiện trường thì thấy chỉ bị mất hai cây hoa Mai, ngoài ra không bị mất cây nào khác. Ông xem lại Camera thì thấy mất trộm vào khoảng 01 giờ ngày 05/3/2021. Sau đó ông đã trình báo Công an phường YT, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, ông được biết Công an đã bắt được đối tượng trộm cắp và thu giữ được hai cây hoa Mai. Đến nay ông đã được Công an trả lại hai cây hoa Mai, ông không đề nghị các bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ngô Văn Q1.

* Người có Q1 lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Tử Đ có lời khai thể hiện: Gia đình ông có trồng một cây hoa Giấy, loại hoa màu đỏ phai, có tán được ông trồng trong chậu và để phía trước nhà. Vào khoảng tháng 2/2021, khi ông đi làm ca đêm về thì phát hiện cây hoa Giấy trên đã bị kẻ gian lấy cắp. Ông nghĩ giá trị cây hoa Giấy đó không nhiều nên ông không trình báo Công an. Nay ông được biết đối tượng trộm cắp cây hoa Giấy trên tên là Q, nhà ở YT và ông cũng được Công an trả lại cây hoa Giấy, ông không có yêu cầu hay đề nghị gì.

* Người có Q1 lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T có lời khai thể hiện: Ông có trồng một cây hoa Giấy đặt ở vườn nhà, sau đó ông có chuyển ra phía trước nhà và dùng xích để xích lại. Tuy nhiên sau đó đã bị kẻ gian trộm cắp mất, nhưng ông cũng không trình báo Công an vì nghĩ giá trị nhỏ. Nay ông được Công an trả lại cây hoa Giấy trên, ông không có yêu cầu hay đề nghị gì.

* Người có Q1 lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D có lời khai thể hiện: Vào khoảng năm 2019, bà có mua hai cây hoa Mai Miền Nam để về chơi tết và bà có mua của một người buôn bán phế liệu 01 chiếc loa với giá 1.000.000đ, nhưng sau đó phát hiện Loa bị hỏng, không sử dụng được. Trong quá trình điều tra, Công an đã tiến hành tạm giữ những đồ vật trên, nay bà đã được nhận lại toàn bộ những đồ vật trên, bà không có yêu cầu hay đề nghị gì.

* Người làm chứng anh Lê Phi S có lời khai thể hiện: Anh và Ngô Văn Q1 là anh em họ, vào khoảng tháng 12 năm 2020, anh được Q1 cho mượn chiếc Loa về để sử dụng nhưng do Loa bị hỏng nên anh không sử dụng được, anh vẫn để ở nhà, sau đó anh đã giao nộp cho Cơ quan Công an để phục vụ điều tra.

* Người làm chứng chị Lê Thị D có lời khai thể hiện: Chị làm nghề buôn bán tại nhà, bán thiết bị điện tử và có làm thêm dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản. Khoảng 02 giờ ngày 05/3/2021, chị đang ngủ thì có đối tượng tên Q ( tên thường gọi là Q Híp) gọi điện thoại cho chị để xin rút tiền. Sau khi đã xác định đúng số tài khoản, số tiền, chị đồng ý cho Q rút 4.500.000đ nhưng chị trừ 100.000đ tiền phí, chỉ đưa lại Q 4.400.000đ. Sau đó, Q lại tiếp tục đến nhà chị rút 300.000đ nữa nhưng chị trừ 30.000đ phí dịch vụ và đưa lại cho Q 270.000đ.

Xét thấy: Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Bản ảnh vật chứng; Lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL- HĐĐGTS ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ, kết luận: 01 (một) cây hoa Mai, loại Mai vàng Yên Tử có chu vi gốc cây: 26 cm, đường kính thân cây: 07 cm, cao 3,1m, đường kính tán rộng nhất là 1,65m, hiện trên cây có nhiều lá non và hoa mai năm cánh màu vàng, phần rễ bị nhổ, trơ bộ rễ, không còn đất bầu có giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng); 01 cây hoa Mai loại Mai vàng Yên Tử có chu vi gốc cây: 22cm, đường kính thân cây: 06 cm, cao 2,9m, đường kính tán rộng nhất là 2,3m, hiện trên cây có nhiều lá non và hoa Mai năm cánh màu vàng, phần rễ bị nhổ trơ bộ rễ, không còn đất bầu có giá: 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Tổng giá trị của hai cây Mai là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do được Ngô Văn Q1 hứa hẹn trước về việc nếu trộm cắp cây hoa mai thì Q1 sẽ mua nên khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 05/3/2021, tại khu T, phường YT, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức Q và Vũ Hồng H đã có hành vi trộm cắp 02 cây hoa mai, loại mai vàng Yên Tử, trị giá 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Đông H sau đó đem bán cho Ngô Văn Q1 lấy 4.800.000đ sử dụng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 70/CT - VKS - ĐT ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, làm mất trật tự trị an, tạo nên tâm lý bất an, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo Q, H1 lợi dụng đêm khuya vắng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đối với bị cáo Q1, mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã có hành vi hứa hẹn sẽ mua những tài sản mà Q, H1 trộm cắp được nên bị cáo Q1 đồng phạm với vai trò xúi giục. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H đã bàn bạc, thống nhất lựa chọn địa điểm trộm cắp tài sản; sau khi lấy được tài sản trộm cắp các bị cáo Q, H1 đã đem đến bán cho bị cáo Ngô Văn Q1 để lấy tiền tiêu xài. Việc Q, H1 trộm cắp cây Mai, cây hoa giấy bán cho Q1 là do Q1 có nhu cầu mua các loại cây này, hứa hẹn sẽ mua nếu Q, H1 trộm cắp được. Chỉ vì hám rẻ mà Q1 đã đồng phạm cùng với Q, H1 trong việc trộm cắp tài sản. Do đó, các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H đều là những người thực hành nên có vai trò chính và ngang nhau, bị cáo Ngô Văn Q1 đồng phạm với vai trò xúi giục nên có vai trò sau các bị cáo Q, H1.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Xét về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H là những người có nhân thân xấu: Ngày 30/5/2007, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân thị xã Đ xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”, bị cáo Q đã chấp hành xong bản án từ ngày 21/01/2018; Ngày 04/9/2020, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân thị xã Đ áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Q nhưng Q chưa chấp hành Quyết định này. Tháng 9/2017, bị cáo Vũ Hồng H bị Tòa án nhân dân thị xã Đ xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo H1 đã chấp hành xong bản án từ ngày 12/01/018; Còn bị cáo Ngô Văn Q1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự;

* Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra, bị cáo H1, sau khi biết hành vi của mình không thể che giấu đã chủ động đến cơ quan Công an đầu thú, tự nguyện khai báo toàn bộ nội dung sự việc và giao nộp số tiền 1.500.000đ do phạm tội mà có; bị cáo Q1, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại ông Nguyễn Đông H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo H1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Q1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Đối với bị cáo Ngô Văn Q1, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Q1 ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính Q1 địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình và trở thành công dân có ích.

Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 02 (hai) cây hoa Mai vàng Yên Tử, ngày 27/4/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên bị hại ông Nguyễn Đông H, ông Hải đã nhận lại tài sản trên, không có ý kiến hay đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với 01 (một) cây hoa Giấy (thân 14cm), ngày 27/4/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho ông Phùng Tử Đ, ông Điệp đã nhận lại tài sản trên, không có ý kiến hay đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với 03 (ba) cây hoa Giấy (gốc 39 cm, gốc 29 cm và thân 12cm), ngày 27/4/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho ông Lê Văn T, ông Thường đã nhận lại tài sản trên, không có ý kiến hay đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius, (chưa gắn biển kiểm soát). Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của Vũ Hồng H mua tại cửa hàng bán xe máy Mạnh Phong ở khu KS, phường KS, thị xã Đ dưới hình thức thế chấp cho Ngân hàng HD Saison để thanh toán tiền mua xe, hiện giấy tờ đăng ký xe do Ngân hàng giữ. Ngày 26/4/2021, Cơ quan điều tra đã trả cho bà Bùi Thị N (là mẹ đẻ của bị cáo H1, do bị cáo H1 ủy Q1 cho bà Nhủ nhận tài sản trên) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với 01 (một) cây hoa Mai vàng Miền Nam và 01 (một) Loa siêu trầm Yamaha SB-M-800II. Ngày 27/4/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Nguyễn Thị D nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Duos thu của bị cáo Q và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng thu của bị cáo Q1, quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.

- Đối với và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9, màu đỏ thu của bị cáo H1, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H1.

- Đối với số tiền 1.500.000đ, bị cáo H1 tự nguyện giao nộp do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước .

- Cần truy thu, nộp ngân sách NH1 nước số tiền 1.490.000đ đối với bị cáo Q và 90.000đ đối với bị cáo H1 do các bị cáo Q, H1 phạm tội mà có.

Về các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng Vũ Q H, quá trình điều tra xác định H đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và tách vụ án, khi nào bắt được sẽ xử lý bằng một vụ án riêng.

- Đối với chị Lê Thị D là người đã nhận tiền do Ngô Văn Q1 cHển qua tài khoản để trả tiền cho Ngô Đức Q và Vũ Hồng H nhưng chị Duyến không biết số tiền trên do Q1 chuyển là tiền do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

- Ngoài hành vi trộm cắp 02 cây hoa Mai Yên Tử nêu trên, trước đó cũng do Ngô Văn Q1 hứa hẹn trước việc tiêu thụ nên khoảng giữa tháng 01 năm 2021 Nguyễn Đức Q và Vũ Hồng H còn trộm cắp 01 cây hoa Giấy trị giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của gia đình ông Lê Văn T, sinh năm 1965, ở khu HB, phường MK, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đem bán cho Q1 được 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Tiếp đó, khoảng giữa tháng 02 năm 2021, trộm cắp 01 cây hoa Giấy trị giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) của gia đình ông Phùng Tử Đ, sinh năm 1959, ở khu Q Trung, phường MK, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh vào một ngày đem bán cho Q1 được 400.000đ. Sau khi mua được các cây hoa Giấy Ngô Văn Q1 đã tỉa ra thành 04 cây và đem trồng tại vườn nhà và bị Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám xét. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các cây hoa Giấy cho chủ sở hữu. Do giá trị tài sản trộm cắp 02 lần trên đều dưới 2.000.000đ nên Công an thị xã Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H và Ngô Văn Q1.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 3 năm 2021).

2/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 3 năm 2021).

3/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn Q1 09 ( chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án ( ngày 15/7/2021) về tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Ngô Văn Q1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Q1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; các điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Duos thu của bị cáo Q.

- Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng thu của bị cáo Q1.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Hồng H 01 ( một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9, màu đỏ thu của bị cáo H1.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000đ, bị cáo H1 tự nguyện giao nộp do phạm tội mà có.

(Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 97 ngày 31 tháng 5 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục thi H1nh án dân sự thị xã Đ).

* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.490.000đ ( một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Nguyễn Đức Q và 90.000đ (chín mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Vũ Hồng H do các bị cáo Q, H1 phạm tội mà có.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H, Ngô Văn Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về Q1 kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, các bị cáo có mặt, có Q1 kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, Người có Q1 lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có Q1 kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

* Về biện pháp ngăn chặn:

- Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Ngô Văn Q1.

- Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Đức Q, Vũ Hồng H 45 ( bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

Cỡ chữ