- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Huệ Phước - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Huệ P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2021/HS-ST Ngày: 17/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Hoàng
Ông Nguyễn Đại Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Nữ Thanh Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2021/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Huệ P, sinh năm: 1984 tại Phú Yên; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh K; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N (đã chết) và Nguyễn Thị Q, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa.
Tiền án:
Ngày 21/6/2013, Lê Huệ P bị Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 106/2013/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2014.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 27/4/2004, Lê Huệ P bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Cam Thuận ra Quyết dịnh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 50/QĐ
- CT về hành vi gây rối trật tự công cộng.
- Ngày 21/4/2015, Lê Huệ P bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/10/2015.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2021 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
Võ B, sinh năm: 1976
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1964
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Cam L, thành phố C, tỉnh K(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm: 1973
Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh K (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Huệ P là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.
Khoảng 15 giờ ngày 19/02/2020, Dương Thái L điều khiển xe máy hiệu Dream (không gắn biển số) của L đến nhà Lê Huệ P, rủ P đi trộm kết cá bán lấy tiền tiêu xài. P đồng ý. P điều khiển xe chở L đến nhà ông Võ B ở tổ dân phố Lợi Hưng, phường Cam Lợi, thành phố Cam Ranh. Tại đây, P đứng ở ngoài, L vào trong sân nhà ông Võ B lấy 21 kết cá bằng nhựa. P, L đem số kết cá này đến bán cho bà Huỳnh Thị L ở tổ dân phố Lợi Thọ, phường Cam Lợi, thành phố Cam Ranh được 85.000 đồng.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/02/2020, P tiếp tục sử dụng xe máy hiệu Dream (không gắn biển số) của L chở L đến nhà ông Btrộm 08 cái kết cá chở đến nhà bà Lbán được 30.000 đồng. Bán xong P chở L quay lại nhà ông Blấy trộm 12 kết cá nữa chở đến bán cho bà Lđược 40.000 đồng. Sau đó cả L và P đến nhà ông Bđể lấy trộm thêm kết cá thì bị ông B phát hiện, truy hô nên P và L bỏ chạy.
Sau khi mua kết cá của L và P, bà Huỳnh Thị L bán lại toàn bộ số kết cá này cho bà Nguyễn Thị Kim V ở tổ dân phố Lợi Hải, phường Cam Lợi, thành phố Cam Ranh với giá 218.000 đồng.
Sau khi phạm tội Lê Huệ P bỏ trốn, đến ngày 20/7/2021 bị bắt truy nã.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 20 ngày 18/3/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 41 kết cá bằng nhựa trị giá 615.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 81/CT-VKSCR-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Lê Huệ P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lê Huệ P và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, xử phạt bị cáo Lê Huệ P từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ B đã nhận lại tài sản; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị L, Nguyễn Thị Kim V không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.
Về vật chứng vụ án: 41 kết cá bằng nhựa đã trả lại cho chủ sở hữu ông Võ B nên không xét.
Đối với Dương Thái L đã bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử vào ngày 25/9/2020.
Bị cáo Lê Huệ P thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị hại Võ B; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Huỳnh Thị L, Nguyễn Thị Kim V có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định.
Về nội dung vụ án:
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Lê Huệ P đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Lê Huệ P là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Vào ngày 19/02/2020 và ngày 20/02/2020, tại nhà ông Võ B ở tổ dân phố Lợi Hưng, phường Cam Lợi, thành phố Cam Ranh, Lê Huệ P đã có hành vi trộm cắp 41 kết cá bằng nhựa của ông Võ B, trị giá 615.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 81/CT-VKSCR-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo theo quy định điểm b tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Bị cáo Lê Huệ P là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư. Ngày 21/6/2013, bị Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 27/4/2004, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Cam Thuận ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi gây rối trật tự công cộng; Ngày 21/4/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo xem thường pháp luật và ý thức cải tạo kém. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Huệ P phạm tội từ hai lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong hồ sơ thể hiện bị hại Võ B; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị L, Nguyễn Thị Kim V không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.
Về xử lý vật chứng: 41 kết cá bằng nhựa đã trả lại cho chủ sở hữu Võ B nên Hội đồng xét xử không xét.
Về các vấn đề khác:
Đối với Dương Thái L cùng với Lê Huệ P thực hiện hành vi trộm cắp 41 kết cá bằng nhựa của ông Võ B vào ngày 19/02/2020 và ngày 20/02/2020. Dương Thái Lđã bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử tại Bản án số: 54/2020/HSST ngày 25/9/2020 nên không xét.
Đối với Huỳnh Thị L mua 41 kết cá của Dương Thái L và Lê Huệ P; Bà Nguyễn Thị Kim V mua lại số kết cá này từ bà Huỳnh Thị L. Bà Huỳnh Thị L, bà Nguyễn Thị Kim V không biết tài sản đó do L, P trộm cắp mà có không truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Huệ P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ 292 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Huệ P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Lê Huệ P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/7/2021.
3. Về án phí:
Bị cáo Lê Huệ P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Huệ P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại Võ B; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị L, Nguyễn Thị Kim V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Cam Ranh; - Công an thành phố Cam Ranh (02 bản); - Chi cục THADS thành phố Cam Ranh; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Bị hại; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Vân |