vanban.org

Bản án 71/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Ngọc Kh.

1. Về hôn nhân: Anh Huỳnh Ngọc Kh được ly hôn với chị Bùi Thị Kim Ph. 2. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn vê mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Ngọc Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2021/HNGĐ-ST
Ngày 29 – 6 - 2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mua

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 103/2021/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 10/6/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Ngọc Kh, sinh năm 1980 – có mặt

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Kim Ph, sinh năm 1982 – có mặt

Các đương sự cùng địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Về hôn nhân: Anh Kh và chị Ph thống nhất trình bày anh chị cưới nhau vào năm 2002, hôn nhân do mai mối, anh, chị tự nguyện với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long.

Thời gian vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ ngày 02/10/2013 cho đến nay.

- Về con chung: Anh Kh và chị Ph có hai người con chung là Huỳnh Thị Kiều T, sinh ngày 13/10/2003 và Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên nhân mất hạnh phúc: Anh Kh trình bày do bất đồng quan điểm sống với nhau, anh với chị Ph thường xuyên cự cãi với nhau. Từ khi ly thân cho đến nay anh Kh và chị Ph không quan tâm, chăm sóc với nhau và không còn đời sống chung vợ chồng. Anh Kh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Ph.

Nay anh Kh yêu cầu:

- Về hôn nhân: Anh Kh yêu cầu ly hôn với chị Bùi Thị Kim Ph.

- Về con chung: Anh Kh yêu cầu nuôi hai con chung là Huỳnh Thị Kiều T, sinh ngày 13/10/2003 và Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007. Anh Kh không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Bị đơn là chị Ph: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 196, 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho chị Ph, nhưng chị Ph không có ý kiến gì bằng văn bản và vắng mặt đến lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 19/5/2021.

- Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Huỳnh Ngọc Kh với chị Bùi Thị Kim Ph được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C cấp ngày 11/12/2002 thì anh Kh và chị Ph là hôn nhân hợp pháp.

+ Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C cấp ngày 05/11/2003 và ngày 20/12/2007 thì Huỳnh Thị Kiều T, sinh ngày 13/10/2003 và Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007 là con chung của anh Kh với chị Ph.

- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất:

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải cho chị Ph, nhưng chị Ph không có ý kiến gì bằng văn bản và qua hai lần tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì chị Ph cũng không tham dự nên không xác định được sự thống nhất và không thống nhất của các đương sự trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ và ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện của anh Kh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Ph là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Tam Bình, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.

. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa chị Ph thống nhất với lời trình bày của anh Kh về hôn nhân, con chung.

- Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của anh Kh với chị Ph là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, từ khi ly thân đến nay anh Kh và chị Ph không có quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và không còn đời sống chung của vợ chồng. Tại phiên tòa chị Ph đồng ý ly hôn với anh Kh. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Kh với chị Ph; cho anh Kh được ly hôn với chị Ph.

- Về con chung: Xét yêu cầu nuôi hai con chung của anh Kh là cháu Huỳnh Thị Kiều T, sinh ngày 13/10/2003 và Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007 là có căn cứ chấp nhận một phần. Bởi lẽ, từ khi anh Kh và chị Ph ly thân với nhau thì cháu Kiều T và Tiểu Th do chị Ph nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 13/10/2003 và ngày 29/6/2021 của cháu Kiều T và Tiểu Th thì cháu Kiều T có nguyện vọng sống với anh Kh, cháu Tiểu Th có nguyện vọng sống với chị Ph sau khi anh chị ly hôn với nhau; nhằm tránh xáo trộn và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Kiều T và Tiểu Th; đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Kiều T cho anh Kh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Tiểu Th cho chị Ph tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Kh, chị Ph không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con:

Chị Ph yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con cháu Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007 mỗi tháng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Tiểu Th đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của chị Ph về việc yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi cháu Tiểu Th là có căn cứ chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử buộc anh Kh cấp dưỡng nuôi con chung cháu Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007 mỗi tháng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Kh không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:

Anh Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đến phần hỏi các đương sự thì chị Ph yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ 2 Thông phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mở ngày 19/5/2021 cho chị Ph, nhưng chị Ph vắng mặt cả 2 lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu của chị Ph về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ kiện này. Dành cho chị Ph một vụ kiện dân sự khác về việc chia tài sản chung giữa chị với anh Kh nếu chị có yêu cầu và phải làm đơn gởi đến Tòa án.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Kh phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, các điều 81, 82, 83, 84 và 118 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Ngọc Kh.

1.1. Về hôn nhân: Anh Huỳnh Ngọc Kh được ly hôn với chị Bùi Thị Kim Ph.

1.2. Về con chung:

1.2.1. Giao cháu Huỳnh Thị Kiều T, sinh ngày 13/10/2003 cho anh Huỳnh Ngọc Kh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng;

1.2.2. Giao cháu Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007 cho chị Bùi Thị Kim Ph tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng;

Anh Huỳnh Ngọc Kh, chị Bùi Thị Kim Ph không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con:

1.3.1. Buộc anh Kh cấp dưỡng nuôi con chung Huỳnh Tiểu Th, sinh ngày 06/12/2007 mỗi tháng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.3.2. Anh Kh không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

1.4. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản:

1.4.1. Anh Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4.2. Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của chị Ph trong vụ kiện này. Dành cho chị Ph một vụ kiện dân sự khác về việc chia tài sản chung giữa chị với anh Kh nếu anh, chị có yêu cầu và phải làm đơn gửi đến Tòa án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Huỳnh Ngọc Kh phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số No 0010926 ngày 17/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình; anh Kh còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Huỳnh Ngọc Kh, chị Bùi Thị Kim Ph có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ