vanban.org

Bản án 71/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoang Thi L xin ly hon voi Ban Van S"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2021/HNGĐ-ST
Ngày 04/5/2021
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hoàng Văn Bốn - Cán bộ hưu trí.

2. Ông: Nguyễn Duy Sự - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 04/5/2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 306/2020/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1995.

- Bị đơn: Anh Bàn Văn S, sinh năm 1988.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bàn Văn S chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/6/2014 tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Cuộc sống chung vợ chồng ban đầu hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay. Chị L xác định mâu thuẫn vợ chồng với anh S đã quá trầm trọng và căng thẳng, vợ chồng không thể đoàn tụ gia đình. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Văn S.

- Về con chung: Chị và anh S có 01 con chung là cháu Bàn Thị Thanh H, sinh ngày 22/5/2012. Sau khi ly hôn chị nhất trí để anh S được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành.

- Về tài sản chung: Chị L xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị L xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại biên bản lấy lời khai anh Bàn Văn S trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị L chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/6/2014 tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2018, chị L bỏ về nhà bố, mẹ đẻ của chị L sinh sống, sau đó chị L đi làm ở đâu anh không biết. Nay chị L xin ly hôn với anh, anh có ý kiến là không biết anh làm sai điều gì, do vậy anh không nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị L.

- Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị L có 01 con chung là cháu Bàn Thị Thanh H, sinh ngày 22/5/2012. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung đến khi trưởng thành và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh S xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nợ chung: Anh S xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành việc triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung: Chị Hoàng Thị L và anh Bàn Văn S chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/6/2014 tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hiện chị L và anh S đã sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các quy định của Luật hôn nhân và gia đình đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L và xử cho chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Bàn Văn S. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Bàn Thị Thanh H, sinh ngày 22/5/2012 cho anh Bàn Văn S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Hoàng Thị L phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Bàn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Bàn Văn S chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/6/2014 tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Như vậy hôn nhân giữa chị Hoàng Thị L và anh Bàn Văn S là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án chị L xác định cuộc sống chung vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không thể hòa hợp được, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Anh Bàn Văn S không nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị L với lý không biết trong cuộc sống vợ chồng anh có điều gì sai.

Qua xác minh tại địa phương thể hiện chị Hoàng Thị L và anh Bàn Văn S chung sống với nhau từ năm 2012, sau đó có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống đến năm 2018 thì chị L đi làm công nhân ở xa, sau đó không về chung sống cùng anh S nữa và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Vì vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, ngoài ra thấy rằng chị L và anh S sống ly thân nhau đã lâu và trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Do đó giữa chị L và anh S không thể tồn tại được một gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L với anh S là phù hợp với quy định tại Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Bàn Văn S có 01 con chung là cháu Bàn Thị Thanh H, sinh ngày 22/5/2012, hiện nay cháu đang sinh sống cùng với anh S. Quá trình giải quyết vụ án anh S có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung đến khi trưởng thành, chị L cũng nhất trí để anh S nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết vụ án qua hỏi ý kiến của cháu Hằng thì cháu có nguyện vọng được ở với anh S, qua xác minh tại địa phương xác định từ khi chị L và anh S ly thân thì cháu Hằng chung sống cùng anh S từ đó đến nay. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu Hằng cần giao cháu Bàn Thị Thanh H cho anh Bàn Văn S được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Do anh S không yêu cầu chị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị L và anh S cùng xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vay nợ chung: Chị L và anh S cùng xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; 147; 207; 227; 228; 235; 238; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Bàn Văn S.

- Về con chung: Giao cháu Bàn Thị Thanh H, sinh ngày 22/5/2012 cho anh Bàn Văn S được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Hoàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

- Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002345, ngày 24/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, chị L đã nộp đủ án phí.

Anh Bàn Văn S không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án./.

Cỡ chữ