vanban.org

Bản án 71/2021/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 30/03/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng hoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, hoản 1 Điều 158; Khoản 1, Điểm b hoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; hoản 1 Điều 88 và hoản 1, 2 Điều 89 Luật Đất đai năm 2013; Điều 31, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính …

Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án. 1/ Bác các yêu cầu hởi iện của ông N.V.T về việc yêu cầu hủy : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "N.V.T - UBND q. BTL; UBND TP HN"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng hoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, hoản 1 Điều 158; Khoản 1, Điểm b hoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; hoản 1 Điều 88 và hoản 1, 2 Điều 89 Luật Đất đai năm 2013; Điều 31, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính …
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính xử bác các yêu cầu hởi iện; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số nghị định…; Luật Đất đai xử hủy
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bảnán số: 71/2021/HC-ST
Ngày: 29- 30/3/2021
“V/v: Khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà TônThị Xuân Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Đỗ Thị Thái

Ông Lê Phú Hợp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Th nh - Thư T a án nh n d n thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Thắng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 và ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nh n d n thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công hai vụ án hành chính thụ l số 116/2020/HCST ngày 31/3/2020 về việc hiếu iện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản l đất đai. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HC ngày 05/3/2021 và Quyết định hoãn phiên t a số 62 ngày 16/3/2021 giữa các đương sự:

Người khởi kiện : Ông N.V.T, sinh năm 1954 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ d n phố Y.N 1, phường L.M, quận B.T.L, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Toàn:

- Ông Nguyễn Phan Hào - Sinh năm 1951.(Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ d n phố Trung 6, phường T y Tựu, quận B.T.L, TP Hà Nội.

- Bà Lê Thị Hiền - Sinh năm 1994 Địa chỉ: Xã Tứ D n, huyện Khoái Ch u, tỉnh Hưng Yên. Người bị kiện: - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân th nh phố H Nội ( Vắng mặt) Địa chỉ: Số 79 Đinh Tiên Hoàng,phường L Thái Tổ,Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng Đông - Phó Chủ tịch.

- Ủy ban nhân dân quận B.T.L. ( vắng mặt)

Địa chỉ: Phố Phú Kiều, phường Phúc Diễn, quận B.T.L, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lƣu Ngọc H - Chủ tịch UBND quận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Cao Ngọc Hạnh – Chuyên viên ph ng tài nguyên môi trường UBND Quận B.T.L.( Vắng mặt)

- Chủ tịch U ND quận B.T.L

Địa chỉ: Phố Phú Kiều, phường Phúc Diễn, quận B.T.L, Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- U ND phƣờng L.M

Địa chỉ: Phường L.M, quận B.T.L, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đo n Mạnh Hùng – Sinh năm 1975

Chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường L.M.( vắng mặt)

- Hợp tác xã Y.N

Địa chỉ: Số 101/1 đường L.M, Tổ d n phố Y.N 3, phường L.M, quận B.T.L, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Chiến - Giám đốc (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Khánh

- Chị Nguyễn Thị Hiền.

- Anh Nguyễn Văn Hùng

- Anh Nguyễn Văn Dân

Cùng Địa chỉ: Tổ d n phố Y.N 1, phường L.M, quận B.T.L, Hà Nội. ( cùng xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các bản khai tại Tòa án, người khởi kiện là ông N.V.T và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 1981, gia đình ông được HTX Y.N giao diện tích đất nông nghiệp (bao gồm đất cấy lúa, đất trồng màu hu bãi và hu sống cao) để sản xuất theo mô hình inh tế hộ (có xác nhận của HTX Y.N) với diện tích: 1350 m2. Năm 2000, gia đình ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1170 m2,bao gồm: + Thửa số 7, tờ bản đồ số 16 có diện tích: 250 m2

+

Thửa số 446, tờ bản đồ số 16 có diện tích: 529 m2

+ Thửa số 148, tờ bản đồ số 15 có diện tích: 391 m2

Diện tích c n lại 180 m2 đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 20 cũng được giao từ năm 1981 nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này gia đình ông sử dụng ổn định từ lúc nhận giao hoán đến nay và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Ngày 11/4/2016, UBND quận B.T.L ra Quyết định số 1335/QĐ- UBND thu hồi 180 m2 đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 548 tờ bản đồ số 16 của gia đình bà để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội trên địa bàn phường L.M. Cùng ngày, gia đình ông nhận được Quyết định số 1406/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết cho gia đình bà.Cụ thể : - Bồi thường, hỗ trợ về đất 180m: 36.288.000 đồng. Bồi thường, hỗ trợ về tài sản : 32.310.842 đồng. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường là : 9.474.842 đồng. Không đồng với phương án bồi thường, hỗ trợ nên ông đã làm đơn hiếu nại gửi đến UBND quận B.T.L.

Ngày 29/7/2016, gia đình ông nhận được Quyết định số 3096/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết đơn hiếu nại của ông. Nội dung quyết định này là giữ nguyên Quyết định số 1335/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 và Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết cho gia đình ông.

Sau hi nhận được Quyết định giải quyết hiếu nại số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L, gia đình đã làm đơn hiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.

Ngày 05/7/2019, sau gần 3 năm, gia đình bà mới nhận được Quyết định số 6911/QĐ-UBND đề ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc giải quyết hiếu nại của gia đình ông. Nội dung quyết định này là đồng Quyết định 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết hiếu nại của gia đình ông.

Không đồng với quyết định giải quyết hiếu nại của UBND thành phố Hà Nội, gia đình ông đã gửi đơn hởi iện đến T a án nh n d n thành phố Hà Nội. Nay ông đề nghị T a án nh n d n thành phố Hà Nội xét xử hủy:

+Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B.T.L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết.

+ Quyết định số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết đơn hiếu nại lần đầu.

+ Quyết định số 6911/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc giải quyết hiếu nại lần hai.

Yêu cầu UBND quận B.T.L ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ bổ sung cho gia đình ông số tiền 219.968.085 đồng (Hai trăm mười chín triệu chín trăm sáu tám nghìn không trăm tám nhăm đồng).

T a án nh n d n thành phố Hà Nội xét xử buộc Hội đồng bồi thường quận B.T.L bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho gia đình ông như quy định của pháp luật mà ông đã nêu trong đơn hởi iện.

Quan điểm của UBND thành phố Hà Nội: Đại diện của UBND thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm đối với vụ án được nêu tại văn bản số 1521/UBND-GPMB ngày 24/4/2020.

Cụ thể: Sau hi iểm tra, rà soát hồ sơ giải quyết hiếu nại của ông N.V.T, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội hẳng định nội dung Quyết định 6911/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 về giải quyết hiếu nại của ông N.V.T là đúng quy định của pháp luật. Đến nay, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội hông có iến gì hác với quan điểm đã thể hiện tại quyết định nêu trên.

Quan điểm của Chủ tịch UBND quận B.T.L và UBND quận B.T.L: Diện tích 180 m đất do hộ gia đình ông N.V.T đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học là đất nông nghiệp hông được giao theo Nghị định 64/CP; Do đó, ngày 11/4/2016, UBND quận B.T.L ban hành Quyết định số 1335/QĐ-UBND về việc thu hồi 180 m2 đất nông nghiệp hông giao và Quyết định số 1406/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông N.V.T đã bồi thường 01 lần giá đất nông nghiệp là đúng với quy định tại hoản 2, Điều 77, Luật Đất đai năm 2013, hông tính hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm iếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp là đúng quy định tại hoản 1, Điều 20, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Chủ tịch UBND quận B.T.L đã ban hành Quyết định số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 về việc giải quyết hiếu nại lần đầu là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung đảm bảo quy định của Pháp luật.

Căn cứ quy định pháp luật và từ những ph n tích, tổng hợp nêu trên cũng như người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản hông cung cấp thêm bất cứ giấy tờ, tài liệu nào hác. Do vậy, UBND quận B.T.L và Chủ tịch UBND quận B.T.L giữ nguyên các quyết định hành chính và các văn bản hành chính đã ban hành đối với hộ gia đình ông N.V.T, địa chỉ Tổ d n phố Y.N 1, phường L.M, B.T.L khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án X y dựng Khu công nghệ cao sinh học tại phường L.M, quận B.T.L.

Để đảm bảo tính nghiêm minh và thượng tôn pháp luật, UBND quận B.T.L iến nghị T a án Nh n d n thành phố Hà Nội nghiên cứu và xét xử vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Quan điểm của UBND phường L.M:

- Trên cơ sở phương án giao đất nông nghiệp tổng thể đã được các cấp phê duyệt, UBND xã L.M (nay là Phường L.M) lập phương án giao đất nông nghiệp chi tiết cho từng hộ gia đình, cá nh n, theo từng Hợp tác xã. Đối với HTX Y.N giao đất cho các hộ gia đình, cá nh n tính theo bình qu n nh n hẩu trong hộ là 258 m2/ hẩu.

- Khi thực hiện việc giao đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, diện tích đất của các hộ gia đình, cá nh n hông được đưa vào trong phương án giao đất chi tiết để c n đối giao cho các hộ gia đình, cá nh n.

- Về hiện trạng diện tích đất bị thu hồi của các hộ gia đình, cá nh n:

Hiên trạng các hộ gia đình, cá nh n đang sử dụng đất để trồng rau, hành, hoa hồng, hoa cúc và cau vua.

- Khi xác nhận nguồn gốc đất cho các hộ gia đình, cá nh n có đất nông nghiệp nằm trong chỉ giới GPMB dự án Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội, UBND phường L.M căn cứ vào hồ sơ địa chính lưu tại ƯBND phường (Bản đổ và sổ mục ê đất năm 1994, Phương án giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của Chính phủ lập năm 1999 và hiện trạng các hộ gia đình, cá nh n đang sử dụng).

- Trên địa bàn phường L.M có 03 hộ gia đình, cá nh n bị thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện dự án Khu công nghẹ cao sinh học Hà Nội loại đất tương tự được hỗ trợ X 05 lần giá đất, gồm: Hộ ông Hoàng Văn Mùi, hộ bà Nguyễn Thị Bình, Hộ ông Nguyễn Văn Anh (Loan).

Quan điểm của Hợp tác xã Y.N:

Căn cứ hồ sơ tài liệu c n lưu giữ tại HTX Y.N về việc quản l sử dụng diện tích đất sản xuất của các hộ gia đình cá nh n trong HTX Hợp tác xã Y.N có

iến như sau:

Hộ gia đình ông N.V.T được HTX Y.N giao đất sản xuất nông nghiệp bao gồm cả phần diện tích hu sống cao từ thời điểm hoán 100 năm 1981 theo chỉ thị 100/CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư về việc cải tiến hình thức giao hoán mở rộng đến từng hộ gia đình cá nh n. Tại thời điểm giao đất hông có biên bản giao bằng giấy mà giao bằng miệng trực tiếp tại hiện trường và quản l theo phương án thu sản phẩm một năm hai vụ của hợp tác xã; tuy nhiên do thời gian l u ngày lên phương án thời điểm đó bị mối mọt xông hông c n lưu trữ được. Đến năm 1988, hi thực hiện hình thức hoán 10 theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị thì diện tích sản xuất của hộ ông N.V.T vẫn hông thay đổi mà chỉ thay đổi sản lượng giao hoán. Năm 1994, hi lập bản đồ hiện trạng diện tích hu sống cao của hộ ông Toàn được ghi số thửa 141, tờ bản đồ 20, diện tích 180 m2.

Năm 1999, hi thực hiện giao đất nông nghiệp theo nghị định 64-NĐ/CP của Chính phủ thì địa phương (hội đồng giao đất xã) chỉ lập phương án c n đối trên giấy tờ chứ hông giũ ra giao lại trong đó chỉ c n đối đất lúa hai vụ c n đất trồng màu gồm hu Sống cao và đất bãi ngoài đê trung ương giữ nguyên hông đưa vào c n đối. Chính vì vậy toàn bộ diện tích các hộ đang sử dụng gần như hông có xáo trộn gì và hầu như người d n hông quan t m đến việc có được cấp giấy chứng nhận hay hông vì họ vẫn sản xuất ổn định bình thường, vẫn giao nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính với HTX từ năm 1981 đến nay.

Vì vậy, HTX Y.N xác nhận hộ ông N.V.T vẫn sản xuất ổn định trên tổng diện tích được giao từ năm 1981 trong đó có phần diện tích hu sống cao thuộc thửa số 141 tờ bản đồ 20 hiện đang thuộc vị trí thu hồi thực hiện dự án hu Công nghệ cao sinh học Hà Nội. Thực hiện đóng, nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước và HTX từ năm 1981 đến nay.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Khánh, ông Nguyễn Văn Dân, ông Nguyễn Văn Hùng, bà Nguyễn Thị Hiền trình bày: Mọi nội dung trong đơn hởi iện các ông bà hoàn toàn đồng như ông N.V.T đã gửi T a án nh n d n thành phố Hà Nội và xin được vắng mặt ở tất cả các buổi làm việc và tại phiên t a.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nh n d n Thành phố Hà Nội. Quá trình tham gia tố tụng của các đương sự, quá trình tiến hành tố tụng của thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Tố tụng hành chính. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ Điều 3; Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật TTHC, Luật đất đai 2013; Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị quyết 326/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 xử Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông N.V.T.Về án phí: ông N.V.T không phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án trên cơ sở thẩm tra, xem xét tại phiên t a. Căn cứ vào ết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời hai của các đương sự, iến của đại diện Viện iểm sát;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

- Về đối tượng khởi kiện : Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B.T.L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Quyết định số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết hiếu nại lần đầu; Quyết định số 6916/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc giải quyết hiếu nại lần 2 là các quyết định hành chính bị iện và quyết định giải quyết hiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 và Khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

- Về thời hiệu khởi kiện : Ngày 05/7/2019, ông mới nhận được Quyết định số 6911/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc giải quyết hiếu nại lần 2. Đơn hởi iện của ông N.V.T đề ngày 22/11/2019, được gửi đến T a án nh n d n thành phố Hà Nội ngày 18/11/2019 là đảm bảo về thời hiệu hởi iện theo quy định tại điểm a hoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

- Về thẩm quyền: Ngày 02/3/2020, T a án thụ l vụ án theo đơn hởi iện của ông N.V.T đối với Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B.T.L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Quyết định số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết hiếu nại lần đầu; Quyết định số 6911/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc giải quyết hiếu nại lần 2. Người bị iện trong vụ án được xác định là Chủ tịch Ủy ban nh n d n thành phố Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban nh n d n quận B.T.L, Ủy ban nh n d n quận B.T.L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nh n d n Thành phố Hà Nội theo quy định tại hoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Tại phiên t a, những người bị iện và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt người hởi iện, người bị iện và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

Xét tính hợp pháp của các quyết định h nh chính:

*Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành và tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị hiếu iện:

Ủy ban nh n d n Quận B.T.L ban hành các Quyết định số 1311/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của Ủy ban nhân dân quận B.T.L về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông N.V.T để thực hiện dự án: Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội và Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết là đúng pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.

Chủ tịch Ủy ban nh n d n quận B.T.L ban hành Quyết định số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu và Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 6911/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại của ông N.V.T là đúng pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật Khiếu nại năm 2011; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại.

Tuy nhiên, cần iến nghị với Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội trong quá trình giải quyết hiếu nại lần hai về việc gửi Quyết định giải quyết hiếu nại cụ thể:Quyết định giải quyết hiếu nại 6916/QĐ-UBND ban hành ngày 15/12/2016 nhưng đến ngày 22/7/2019 mới giao cho người hiếu nại là vi phạm điều 41 Luật hiếu nại năm 2011.

* Về các nội dung của các quyết định hành chính bị hiếu iện:

Diện tích 180m2 (Thuộc thửa số 141 tờ bản đồ số 20 lập năm 1994 được Giám đốc Sở Địa chính xác nhận ngày 26/11/1996) hộ gia đình ông N.V.T sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội có nguồn gốc là đất nông nghiệp, hộ gia đình ông N.V.T sử dụng từ hoán 100, hoán 10, nhưng hông nằm trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/CP của Chính phủ cho hộ gia đình ông Toàn.

Theo phương án chi tiết giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/NĐ-CP cho hộ gia đình ông N.V.T lưu tại UBND phường L.M thể hiện: số nh n hẩu được giao: 5 khẩu, diện tích được giao: 1.290 m2 đất nông nghiệp trong tổng số 1.170 m đất hộ gia đình đang sử dụng và đã được UBND huyện Từ Liêm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp 1.170 m2 (Gồm thửa 7 tờ bản đồ 16, diện tích 250m2 và thửa 446 tờ bản đồ 16, diện tích 529 m2, thửa 148 tờ bản đồ 15, diện tích 391 m2) .

Trên thực tế, ngoài diện tích đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/CP nêu trên, hộ gia đình ông Toàn c n sử dụng 180 m2 đất nông nghiệp (bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội) từ trước thời điểm thực hiện giao đất theo Nghị định số 64/CP để sản xuất nông nghiệp cho đến hi Nhà nước thu hồi để thực hiện Dự án.Chính quyền địa phương hông thực hiện bất ỳ biện pháp gì (thông báo, thu hồi lại, họp đồng thuê thầu...) để quản l đối với phần diện tích này.

Đối với diện tích 180 m2 hộ gia đình ông N.V.T đang sử dụng bị thu hồi tại dự án x y dựng Khu công nghệ cao sinh học trên địa bàn phường L.M là đất nông nghiệp hông giao do UBND phường L.M quản l ( hông thuộc diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình được giao theo Nghị định 64/NĐ-CP); Do đó, ngày 11/4/2016, UBND quận B.T.L ban hành Quyết định số 1406/QĐ-UBND về việc thu hồi 180m2 đất nông nghiệp hông giao do UBND phường L.M quản l , hiện hộ gia đình ông N.V.T đang sử dụng là đúng quy định.

Tại phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông N.V.T đã tính bồi thường về đất theo giá đất nông nghiệp là đúng với quy định tại hoản 2 Điều 77 Luật Đất đai năm 2013, hông được tính hỗ trợ đào tạ , chuyển đổi nghề và tìm iếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp là đúng quy định tại hoản 1 Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì vậy, ông N.V.T đề nghị được bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp đối với phần diện tích 180 m2 đất nông nghiệp hộ gia đình đang sử dụng là hông có cơ sở.

Theo phiếu xác nhận bổ sung ngày 04/6/2015 của UBND phường L.M, hộ gia đình ông N.V.T x y dựng công trình trên diện tích đất bị thu hồi để phục vụ sản xuất nông nghiêp hông có văn bản cho phép của UBND xã L.M; Do đó, được hỗ trợ về công trình bằng 80% mức bồi thường đơn giá đối với công trình x y dựng trước ngày 15/10/1993 và hỗ trợ 10% đối với công trình x y dựng sau ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 là đúng theo quy định tại hoản 1, hoản 3 Điều 14 Quyết định 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 và Quyết định số 02/2016/QĐ-UBND ngày 21/01/2016 của UBND thành phố Hà Nội.

Tuy nhiên, ngày 27/6/2016, UBND phường L.M có văn bản số 205/UBND-ĐC đề nghị UBND Quận xem xét bồi thường, hỗ trợ phần công trình trên đất nông nghiệp cho các hộ gia đình với nội dung: “UBND xã L.M trước đây (nay là UBND phường L.M) tạo điêu kiện cho các hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp được xây dụng một số công trình phụ trợ phục vụ sản xuất nông nghiệp không lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và trật tự xây dụng gồm các công trình: bể phân; giếng khoan; nhà lưới ni lông, khung tre; hàng rào lưới B40; tường rào xây gạch, nhà tạm đế dụng cụ sản xuất nông nghiệp và trông nom tài sản”. Như vậy, các công trình x y dựng của hộ gia đình ông N.V.T phục vụ sản xuất nông nghiệp hông có văn bản cho phép của UBND phường L.M song đã được UBND phường L.M tạo điêu iện cho x y dựng mà hông xử l ; Do đó, cần xem xét áp dụng hoản 2 Điều 12 Quyết định 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố Hà Nội để được bồi thường về công trình bằng 100% đơn giá xây dựng. Và tại Quyết định số 3066/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết đơn hiếu nại lần đầu đã quyết định bồi thường về công trình bằng 100% đơn giá x y dựng cho hộ gia đình ông N.V.T.

Như vậy, Hội đồng xét xử xác định diện tích 180m2 đất do hộ gia đình ông N.V.T đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học là đất nông nghiệp hông được giao theo Nghị định 64/CP; Do đó, ngày 11/4/2016, UBND quận B.T.L ban hành Quyết định số 1335/QĐ-UBND về việc thu hồi 180 m2 đất nông nghiệp và Quyết định số 1406/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông N.V.T đã bồi thường 01 lần giá đất nông nghiệp là đúng với quy định tại hoản 2, Điều 77, Luật Đất đai năm 2013, hông tính hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm iếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp là đúng quy định tại hoản 1, Điều 20, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Chủ tịch UBND quận B.T.L đã ban hành Quyết định số 3096/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 về việc giải quyết hiếu nại lần đầu và Chủ tịch Ủy ban nh n d n thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 6911/QĐ-UBND là ngày 15/12/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với ông N.V.T là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung đảm bảo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết, ông N.V.T trình bày một số hộ dân ở phường L.M, phường Tây Tựu bị thu hồi đất để thực hiện dự án có diện tích như gia đình bà bị thu hồi nhưng hông được bồi thường, hỗ trợ nghề và tìm iếm việc làm. Các hộ d n đã hởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ điều 74, điều 75 Luật đất đai 2013 và điểm d khoản 1 điều 19, khoản 1 điều 20 nghị định 47/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 01/2017/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai xử hủy quyết định và chấp nhận phương án hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm iếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp và Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên các bản án này T a án nh n d n cấp cao đã xử Giám đốc thẩm và quyết định hủy toàn bộ các Bản án sơ thẩm nói trên để xét xử lại theo thẩm quyền. Mặt hác, tại thời điểm hộ gia đình ông Toàn bị thu hồi đất là vào năm 2016 hi đó Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 chưa có hiệu lực pháp luật (có hiệu lực từ ngày 03/3/2017). Tại Điều 5 của Nghị định có quy định về Điều khoản chuyển tiếp như sau:“Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt và không áp dụng theo quy định của Nghị định này”. Như vậy, trường hợp của hộ gia đình ông Toàn hông được áp dụng các quy định của Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 để được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm iếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp

Do các Quyết định nói trên đều đúng pháp luật và đã đảm bảo quyền lợi cho hộ gia đình ông N.V.T nên hông có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Toàn về việc buộc UBND quận B.T.L ra Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho gia đình ông Toàn số tiền 219.968.085 đồng (Hai trăm mười chín triệu chín trăm sáu tám nghìn không trăm tám nhăm đồng).

Từ phân tích, nhận định và đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy có hông có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Toàn. Do vậy, căn cứ hoản 1, điểm a hoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính xử bác các yêu cầu hởi iện của ông N.V.T.

*Về án phí: Yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông N.V.T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí T a án thì ông N.V.T là Người cao tuổi nên được miễn án phí.

*Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền háng cáo theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính.

Luận cứ và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử.

Từ nhận định trên,

Căn cứ hoản 1, điểm b hoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng hoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, hoản 1 Điều 158; Khoản 1, Điểm b hoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; hoản 1 Điều 88 và hoản 1, 2 Điều 89 Luật Đất đai năm 2013; Điều 31, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; hoản 1,3 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hi nhà nước thu hồi đất và điểm a hoản 1 Điều 12 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND thành phố Hà Nội về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Xử :

1/ Bác các yêu cầu hởi iện của ông N.V.T về việc yêu cầu hủy :

+ Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B.T.L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết.

+ Quyết định số 3096/QĐ -UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B.T.L về việc giải quyết đơn hiếu nại lần đầu.

+ Quyết định số 6911/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về việc giải quyết hiếu nại lần hai.

2/ Về án phí hành chính sơ thẩm : ông N.V.T không phải chịu án phí.

3/ Ông N.V.T có mặt tại phiên t a được quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên t a có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ