vanban.org

Bản án 71/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2020/HSST
Ngày 18/03/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

2. Bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố

Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 683/2019/TLST-HS, ngày 30 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, tên gọi khác: Không.Sinh ngày 19/01/1991 tại Thái

Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Xóm ĐB, xã BN, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Quàng Thị L1, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2019 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Anh Bùi Quảng Đ, sinh năm: 1993.

HKTT: Thôn CT, xã LS, huyện TL, tỉnh Hà Nam.

2. Anh Đặng Thanh T, sinh năm: 1993.

HKTT: Tổ 20, phường HS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên’

3. Chị Đặng Thị Hồng P, sinh năm: 1995.

HKTT: Tổ 26, phường PX, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên’

4. Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1995.

HKTT: Làng S, xã KS, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên

5. Chị Dương Thị Thanh Nh, sinh năm 1995.

Trú tại: Tổ dân phố LM, phường BQ, thành phố SC, tỉnh Thái Nguyên

6. Chị Chu Huyền D2, sinh năm: 1995.

Trú tại: Xóm G2, xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên

7. Chị Phạm Thị B, sinh năm: 1996.

HKTT: Thôn 01, xã PL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên

8. Anh Đào Đức T1, sinh năm: 1996.

HKTT: Xóm CĐ, xã TH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên

9. Anh Lùng Văn Đ1, sinh năm: 1993.

HKTT: Thôn CL, xã VT, huyện NS, tỉnh Bắc Kạn

10. Anh Trần Văn Đ2, sinh năm: 1995.

HKTT: Xóm KG, xã BN, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên

11. Anh Hoàng Văn Th, sinh năm: 1996.

HKTT: Tổ 37, phường QT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

12. Chị Nguyễn Thùy L2, sinh năm: 1996.

HKTT: Xóm 07, xã ĐT, huyện TH, tỉnh Thái Bình

13. Anh Phạm Anh T2, sinh năm: 1996.

HKTT: Tổ 04, phường TrT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

14. Anh Dương Quý Ng, sinh năm: 1992.

HKTT: Xóm ĐD, xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên

15. Anh Lục Văn M, sinh năm: 1995.

HKTT: Xóm LL, xã HP, huyện QU, tỉnh Cao Bằng

16. Anh Hạng A G, sinh năm: 1995.

HKTT: Xã SP, huyện SP, tỉnh Lào Cai

17. Anh Nguyễn Mạnh Th2, sinh năm: 1996.

HKTT: Xóm KL, xã HT, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên

18. Anh Lê Hoàng Anh T3, sinh năm: 1996.

HKTT: Xóm LB, xã LB, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên

19. Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm: 1994.

HKTT: Khu 3A, thị trấn Ba Chẽ, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

(Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm

1963 (mẹ đẻ bị cáo D). Có mặt

HKTT: Xóm ĐB, xã BN, huyện ĐT , tỉnh Thái Nguyên

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1992. Vắng mặt

HKTT: Xóm ĐB, xã BN, huyện ĐT , tỉnh Thái Nguyên.

2. Chị Đàm Thị Thu N, sinh năm 1974. Vắng mặt

Trú tại: tổ 26, phường PX, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

3. Bà Vi Thị K, sinh năm 1956. Vắng mặt

4. Anh Lùng Văn T4, sinh năm 1995. Vắng mặt

Đều trú tại: Thôn CL, xã VT, huyện NS, tỉnh Bắc Kạn.

5. Bà Hứa Thị H1, sinh năm 1969. Vắng mặt

HKTT: tổ 20, phường HS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7/2017, Nguyễn Văn D kinh doanh thua lỗ và vay nợ số

tiền khoảng 500.000.000 đồng. Khi học tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, D biết có nhiều sinh viên chưa đủ điểm để tốt nghiệp và có nhu cầu đăng ký chung môn học, đăng ký học cấp tốc, thi cải thiện, xin nâng điểm. D nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của các sinh viên này. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của các sinh viên, D dùng tài khoản Facebook “Tuyet Nguyen” và “Ga Rung” là các tài khoản do Duy lập ra, đăng tải nội dung “Hiện tại tôi có nhu cầu đăng ký môn học, ai có nhu cầu thì đăng ký để mở lớp”, truy cập vào các bài viết trên fan page có tên “svnonglam.vn” là nhóm của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên có nội dung tìm người đăng ký học cùng các môn học để lấy thông tin. Sau đó, D sử dụng số điện thoại 0366.945.837, tài khoản Facebook mang tên “Tuyet Nguyen”, “Ga Rung” để liên lạc với các bạn sinh viên có nhu cầu đăng ký chung môn học, đăng ký học cấp tốc, thi cải thiện, xin nâng điểm. Để tạo sự tin tưởng cho các sinh viên và tránh bị phát hiện, D đưa ra các thông tin gian dối, tự giới thiệu tên giả là “Huy”, học khoa chăn nuôi thú y khóa K43, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và có mối quan hệ thân thiết với nhiều thầy cô giáo trong trường, có khả năng xin đăng ký và mở lớp học cho các sinh viên đang có nhu cầu học cải thiện, học cấp tốc chỉ cần đóng tiền không phải đi học, không phải đi thi vẫn đạt điểm loại khá, giỏi. Sau đó, D yêu cầu các sinh viên nộp chứng minh nhân dân, thẻ sinh viên bản phôtô và giao tiền trực tiếp cho D. Trên thực tế D không quen biết các thầy cô giáo cũng như không có khả năng đăng ký học cấp tốc, thi cải thiện, xin nâng điểm cho các sinh viên.

Trong năm 2017 và năm 2019 tại địa bàn thành phốThái Nguyên, tỉnh

Thái Nguyên với phương thức thủ đoạn như trên, D đã chiếm đoạt được tổng số tiền 184.450.000 đồng của 19 sinh viên, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng tháng 5/2017, anh Bùi Quảng Đ (sinh năm: 1993,

HKTT: Thôn CT, xã LS, huyện TL, tỉnh Hà Nam) là sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Thái Nguyên, anh Đ đang xếp điểm loại trung bình và thiếu điểm môn Tiếng Anh nên có nhu cầu xin nâng điểm để tốt nghiệp xếp loại khá. Do có quen biết với Nguyễn Văn D và được D giới thiệu về việc D có khả năng xin nâng điểm nên anh Đ nhờ D xin nâng điểm 03 môn: Vật lý 1 từ điểm D lên điểm A; Toán cao cấp 2 từ C lên A; Toán cao cấp 3 từ C lên A. D yêu cầu anh Đ đưa 8.000.000 đồng, anh Đại đồng ý. Một ngày trong tháng 5/2017, tại khu vực ngã tư san nền thuộc phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, anh Đ đưa cho D 8.000.000 đồng. Sau đó khoảng một tuần, anh Đ tiếp tục nhờ D giúp qua chuẩn đầu ra Tiếng Anh, D yêu cầu anh Đ đưa thêm 7.000.000 đồng. Anh Đ đồng ý và đưa cho D 7.000.000 tại địa bàn thành phố Thái Nguyên. Sau khi nhận tiền D đã không xin nâng điểm cho anh Đ mà sử dụng để trả nợ và chi tiêu cho bản thân. Tổng số tiền D chiếm đoạt của anh Đ là 15.000.000 đồng. Anh Bùi Quảng Đ yêu cầu D bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 2: Khoảng tháng 7/2017, anh Đặng Thanh T (sinh năm: 1993,

HKTT: Tổ 20, phường HS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên), là sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin Thái Nguyên, thông qua anh Bùi Quảng Đ quen biết Nguyễn Văn D . Ngày 03/7/2019, anh T và mẹ anh T là bà Hứa Thị H1 (sinh năm: 1969, HKTT: Tổ 20, phường HS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên) hẹn gặp D tại nhà thuộc Tổ 20, phường HS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. D giới thiệu có thể “chạy” điểm cho anh T và yêu cầu đưa 50.000.000 đồng, trong đó 40.000.000 đồng để “chạy” điểm và 10.000.000 đồng để “chạy” chứng chỉ tiếng anh. Anh T đồng ý và đưa trước cho D 25.000.000 đồng. Sau đó, tại nhà anh T vào các ngày: ngày 10/7/2019, anh T giao cho D 15.000.000 đồng; ngày 20/7/2019, anh T tiếp tuc giao cho D 10.000.000 đồng và cho D ký nhận vào giấy vay 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, D không dùng số tiền 50.000.000 đồng để “chạy” điểm cho anh T mà trả nợ và chi tiêu cho bản thân. Hiện gia đình Nguyễn Văn D đã tự nguyện trả cho anh Đặng Thanh T 50.000.000 đồng. Hiện anh T không yêu cầu bồi thường gì khác.

Vụ thứ 3: Khoảng tháng 6/2017, chị Đặng Thị Hồng P (sinh năm: 1995,

trú tại: Tổ 26, phường PX, thành phố TN) là sinh viên trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên có nhu cầu chạy điểm 02 môn học: Cơ sở văn hóa Việt Nam và tâm lý học mầm non. Thông qua bạn bè giới thiệu chị P đã liên hệ với Nguyễn Văn D để nhờ chạy điểm. Tháng 6/2017, chị P cùng mẹ là bà Đàm Thị Thu N (sinh năm: 1974, HKTT: tổ 26, phường PX, TP TN) gặp D tại ở cổng Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên, D giới thiệu có khả năng “chạy” điểm cho chị P. Tại đây, D yêu cầu đưa 10.000.000 đồng để “chạy” điểm. Chị P đồng ý đưa cho D 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 10.000.000 đồng để xin nâng điểm cho chị P mà trả nợ và chi tiêu cho bản thân. Chị Đặng Thị Hồng P yêu cầu D bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 4: Khoảng tháng 6/2017, chị Hoàng Thị H (sinh năm: 1995,

HKTT: Làng S, xã KS, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, chị H đã liên hệ với Nguyễn Văn D để nhờ D xin nâng điểm 01 môn đã thi là Dinh dưỡng trẻ em; 02 môn chưa thi: Âm nhạc cơ bản, Môi trường xung quanh. D nói có thể xin được điểm để qua môn học cho chị H. Chị H tin tưởng và đưa tiền cho D thành 03 lần tại phòng trọ của chị H ở tổ 14, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, cụ thể: Lần 1: vào ngày 28/6/2017, chị H đưa cho D số tiền 11.000.000 đồng; Lần 2: vào ngày 05/7/2017, chị H đưa cho D số tiền 2.000.000 đồng; Lần 3: vào ngày 16/7/2017, chị H đưa cho D số tiền 1.900.000 đồng. Tuy nhiên, D không dùng số tiền 14.900.000 đồng để xin nâng điểm cho chị H mà tiêu xài cho bản thân. Chị Hoàng Thị H yêu cầu D bồi thường số tiền 14.900.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 5: Khoảng tháng 7/2017, chị Dương Thị Thanh Nh (sinh năm

1995, trú tại: Tổ dân phố LM, phường BQ, thành phố SC, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, thông qua chị Hoàng Thị H và Đặng Thị Hồng P, chị Nh liên lạc nhờ D “chạy” điểm môn Âm nhạc cơ bản. D nói chắc chắn xin nâng điểm được cho chị Nh mà không cần phải đi học và đi thi. D yêu cầu chị Nh đưa 4.500.000 đồng, thẻ sinh viên và chứng minh thư nhân dân bản photo. Khoảng 18 giờ ngày 16/7/2017, tại nhà trọ của chị H ở tổ 14, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, chị Nh đã giao trước cho D số tiền 3.500.000 đồng, số tiền còn lại 1.000.000 đồng chị Nh hẹn hôm sau sẽ đưa. Tuy nhiên vì chị Nh bị mất chứng minh thư nhân dân nên D yêu cầu chị Nh phải đưa thêm 3.000.000 đồng thì D mới xin nâng điểm được. Khoảng 17 giờ ngày 17/7/2017 tại cổng trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, chị Nh đưa cho D 3.100.000 đồng (trong đó: 3.000.000 đồng tiền nâng điểm và 100.000 đồng tiền đi lại của D). Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 6.600.000 đồng để xin nâng điểm cho chị Nh mà tiêu xài cho bản thân. Chị Dương Thị Thanh Nh yêu cầu D bồi thường số tiền 6.600.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 6: Khoảng tháng 7/2017, chị Chu Huyền D2 (sinh năm: 1995, trú

tại: Xóm G2, xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, thông qua chị Hoàng Thị H, Đặng Thị Hồng P và Dương Thị Thanh Nh, chị D2 nhờ D “chạy” điểm hai môn học chưa đạt. Duy nói có thể “chạy” điểm hai môn học chưa đạt cho chị D2 với số tiền 34.000.000 đồng. Chị D2 tin tưởng và đưa tiền cho D 03 lần, cụ thể: ngày 23/7/2017, tại phòng trọ của chị H ở tổ 14, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên chị D2 giao cho D 13.000.000 đồng, ngày 18/8/2017, tại quán nước gần chùa Phủ Liễn, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, chị D2 giao cho D 17.000.000 đồng, ngày 20/8/2017, tại phòng trọ của chị H tại tổ 14, phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên, chị D2 đã giao cho D 4.000.000 đồng và yêu cầu D ký vào Giấy nhận tiền với nội dung D đã nhận của chị D2, chị P, chị H, chị Nh tổng số tiền 65.500.000 đồng hẹn đến ngày 22/10/2017, D phải lo xong việc nếu không phải trả lại số tiền trên. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 34.000.000 đồng để chạy điểm cho chị D2 mà tiêu xài cho bản thân. Chị D2 yêu cầu D bồi thường số tiền 34.000.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 7: Khoảng tháng 12/2018, chị Phạm Thị B (sinh năm: 1996,

HKTT: Thôn 01, xã PL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có nhu cầu đăng ký học môn Kiểm nghiệm thú sản để kịp tốt nghiệp ra trường. Chị B dùng tài khoản facebook của mình tên “Phạm Biên” đăng lên fan page “svnonglam.vn” bài viết cần tìm người học chung môn kiểm nghiệm thú sản. D dùng tài khoản facebook mang tên “Tuyet Nguyen” nhắn tin với chị B giới thiệu tên là D học K43, khoa chăn nuôi thú y – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chuẩn bị mở lớp. D yêu cầu đưa 600.000 đồng tiền phí mở lớp. Chị B đồng ý và đưa cho D số tiền 600.000 đồng. Sau khi nhận tiền, D không sử dụng để đăng ký học cho chị B. Chị B nhiều lần gọi điện cho D nhưng D không nghe, chị B nghi ngờ D không đăng ký học cho mình nên đã đòi lại D số tiền trên. Sáng ngày 07/01/2019, D gọi chị B ra cổng Bệnh viện A Thái Nguyên và trả lại số tiền 600.000 đồng. Đến ngày 11/01/2019, D có gọi điện cho chị B nói nếu muốn học và thi lớp kiểm nghiệm thú sản thì đưa cho D 1.500.000 đồng thì D sẽ đăng ký hộ cho. Chiều ngày 11/01/2019, chị B gặp D và đưa số tiền 1.500.000 đồng tại nhà thi đấu đại học Nông Lâm, Thái Nguyên. Sau khi nhận tiền, D không sử dụng để đăng ký học cho chị B. Đến ngày 14/01/2019, chị B không thấy có tên trong danh sách dự thi nên đòi lại tiền từ D. Ngày 18/01/2019, D trả cho chị B 1.300.000 đồng qua tài khoản ngân hàng. Cuối tháng 1/2019, D trả số tiền còn lại 200.000 đồng cho chị B. Duy đã trả lại cho chị B đầy đủ số tiền trên. Hiện chị B không yêu cầu bồi thường gì khác.

Vụ thứ 8: Khoảng đầu tháng 01/2019, anh Đào Đức T1 (sinh năm: 1996,

HKTT: Xóm CĐ, xã TH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có nhu cầu học lại môn Kiểm nghiệm thai sản. Thông qua chị Phạm Thị B anh T1 liên lạc với D. D tự giới thiệu tên Huy, sinh viên K43 chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, D nói dối là lớp đang thiếu người anh T1 có muốn học cùng không, chi phí học hết 500.000 đồng. Anh T1 đồng ý. Ngày 03/01/2019 tại nhà K1 trường Đại học Nông Lâm, anh T1 đưa cho D 500.000 đồng. Ngày 11/01/2019, chị B gọi điện thông báo D yêu cầu anh T1 phải đưa thêm 1.000.000 đồng bởi vì môn Kiểm nghiệm thai sản anh T1 đăng ký học lại có 3 tín chỉ. Anh T1 đồng ý và nhờ chị B đưa cho D 1.000.000 đồng. Đến giữa tháng 01/2019, D gọi điện cho anh T1 hỏi có học môn Toán cao cấp không, lớp đang thiếu người và chỉ cần nộp 1.100.000 đồng. Anh T1 đồng ý và đưa cho D 1.100.000 đồng tại nhà V1 trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 2.600.000 đồng để đăng ký học cho anh T1 mà tiêu xài cho bản thân. Anh Đào Đức T1 yêu cầu D bồi thường số tiền 2.600.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 9: Khoảng tháng 10/2018, anh Lùng Văn Đ1 (sinh năm: 1993,

HKTT: Thôn CL, xã VT, huyện NS, tỉnh Bắc Kạn) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có nhu cầu học môn Tiếng Anh 2, anh Đ1 đã đăng bài tìm người học chung trên trang fan page “svnonglam.vn”. D đã chủ động liên lạc với anh Đ1 giới thiệu tên là Duy học K43, khoa chăn nuôi thú ý – trường Đại học Nông Lâm, chuẩn bị mở lớp hỏi anh Đ1 có học cùng không. Anh Đ1 đồng ý và nhờ D đăng ký. Anh Đ1 nhờ em cùng lớp (hiện không rõ tên tuổi, địa chỉ của người này) giao cho D 500.000 đồng. Sau đó, Duy tiếp tục gọi cho anh Đ1 hỏi anh Đ1 có muốn nâng điểm toàn khóa học không, anh Đ1 đồng ý, D nói anh Đ1 chuyển tiền vào tài khoản 106006304554, ngân hàng viettin bank, chủ tài khoản Nguyễn Văn Đ3 (sinh năm: 1992, HKTT: Xóm Đầm Bàng, xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, là em họ của D). Ngày 02/01/2019, anh Đ1 gọi cho mẹ là bà Vi Thị K (sinh năm: 1956, HKTT: Thôn CL, xã VT, huyện NS, tỉnh Bắc Kạn) xin 3.600.000 đồng để nâng điểm đủ điểm tốt nghiệp ra trường. Bà Vi Thị K đưa 3.600.000 đồng cho anh Lùng Văn T4 (sinh năm: 1995, HKTT: Thôn CL, xã VT, huyện NS, tỉnh Bắc Kạn, là em trai của anh Đ1) gửi vào tài khoản trên. Anh Đ3 đã rút 3.600.000 đồng đưa cho Duy. Khoảng đầu tháng 01/2019, tại cổng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên anh Đ1 đưa cho D 2.100.000 đồng nhờ đăng ký 03 môn học: Tiếng anh 2, Chuẩn đầu ra tin học IC3, Chứng chỉ A2 tương đương. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 6.200.000 đồng để xin điểm và đăng ký học cho anh Đ1 mà tiêu xài cho bản thân. Anh Lùng Văn Đ1 yêu cầu D bồi thường số tiền 6.200.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 10: Khoảng đầu tháng 01/2019, anh Trần Văn Đ2 (sinh năm:

1995, HKTT: Xóm KG, xã BN, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên còn nợ 03 môn: Di truyền động vật, Hóa học, Phương pháp tiếp cận mỗi môn 2 tín chỉ, tổng là 6 tín chỉ. Anh Đ2 đăng lên trang fan page “svnonglam.vn” tìm người học chung. Nguyễn Văn D đã sử dụng tài khoản facebook “Rung Ga” nhắn tin cho anh Đ2 có khả năng đăng ký học cho anh Đ2. Trong đó, 1 tín chỉ đăng ký học mất 300.000 đồng, anh Đ2 phải giao cho D tổng số tiền là 1.800.000 đồng. Anh Đ2 đồng ý. Khoảng đầu tháng 1/2019, tại cổng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên do không đủ tiền nên anh Đ2đưa cho D 1.600.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 1.600.000 đồng để đăng ký học cho anh Đ2 mà tiêu xài cho bản thân. Anh Trần Văn Đ2 yêu cầu D bồi thường số tiền 1.600.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 11: Khoảng đầu tháng 01/2019, anh Hoàng Văn Th (sinh năm:

1996 HKTT: Tổ 37, phường Quang Trung, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có nhu cầu học lại 2 môn: Tiếng anh 2 và Đăng ký thống kê đất đai để đủ điều kiện xét tốt nghiệp ra trường. Anh Th lên trang fan page “svnonglam.vn” tìm người học, anh Th thấy một bài đăng trên fanpage trên rủ học lại môn tiếng anh 2 đã nhắn tin cho tài khoản facebook bài viết đó và được tài khoản facebook đó cho số điện thoại của D. Anh Th chủ động liên lạc với D và D giới thiệu tên là Huy, có chị làm trong trường Đại học Nông Lâm có thể giúp được đăng ký học, thi cải thiện điểm, chỉ cần đưa cho D 2.000.000 đồng. Ngày 08/01/2019 tại cổng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, anh Th đưa cho D 2.000.000 đồng kèm theo bản photo chứng minh nhân dân và thẻ sinh viên để D chạy điểm môn Tiếng anh 2. Ngày 09/01/2019, D có gọi điện cho anh Th hỏi có còn đăng ký môn gì nữa không, anh Th nhờ D đăng ký môn Đăng ký thống kê đất đai và giới thiệu có cả chị Nguyễn Thuỳ L2 (sinh năm: 1996 HKTT: Xóm 07, xã ĐT, huyện TH, tỉnh Thái Bình) cũng đăng ký, D nói mỗi người nộp 1.000.000 đồng để đăng ký học và lên điểm, anh Th gọi điện cho chị L2 và chị L2 đồng ý học, nhưng chị L2 chưa có tiền, anh Th đã ứng trước 1.000.000 đồng cho chị L2 để đưa tiền cho D. Ngày 09/01/2019 tại cổng trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, anh Th đưa cho D số tiền 2.000.000 đồng. Sáng ngày 11/01/2019, Duy gọi điện cho anh Th bảo nếu muốn nâng điểm lên tích A các môn cơ bản đã học thì nộp cho D số tiền 180.000 đồng/một môn. Anh Th đồng ý nhờ D giúp nâng lên điểm tích A 06 môn là Quy hoạch, Phát triển nông thôn, Sinh học phân tử, Tiếng anh 1, Hóa học, Sinh học đại cương, Tiếng anh 2. D hẹn anh Th ra cổng sau trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Tại đây, anh Th đưa cho D số tiền 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 4.000.000 đồng để đăng ký học và chạy điểm cho anh Th mà tiêu xài cho bản thân. Anh Hoàng Văn Th yêu cầu D bồi thường số tiền 4.000.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 12: Khoảng tháng 12/2018, chị Nguyễn Thùy L2 (sinh năm: 1996

HKTT: Xóm 07, xã ĐT, huyện TH, tỉnh Thái Bình) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã sử dụng tài khoản facebook “linh chii’t” truy cập trang fan page “svnonglam.vn” tìm lớp học ghép môn Đăng ký thống kê đất đai và Khoa học phong thủy. Thông qua anh Hoàng Văn Th giới thiệu chị L2 liên lạc với Nguyễn Văn D để nhờ đăng ký học. Ngày 03/01/2019, chị L2 gọi điện cho D và nhờ D đăng ký học thêm môn Khoa học phong thủy. D nói nếu đăng ký để học qua môn hết 1.200.000 đồng còn muốn đạt điểm tích A, B thì hết 1.500.000 đồng. Chị L2 đồng ý với mức 1.500.000 đồng. Ngày 04/01/2019 tại trước giảng đường B Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chị L2 đưa cho D 1.500.000 đồng và bản photo thẻ sinh viên. Sau đó, anh Hoàng Văn Th liên lạc với chị L2 hỏi chị L2 có muốn đăng ký học môn Thống kê đất đai không, do không có người học cùng nên mỗi người phải bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng để mở lớp và chỉ cần đi thi chứ không cần học. Chị L2 đồng ý và anh Th bảo chị L2 gửi mã sinh viên để đăng ký và sẽ ứng trước số tiền 1.000.000 đồng cho chị Linh. Sau đó, chị L2 đã gặp và trả số tiền trên cho anh Th. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 2.500.000 đồng để đăng ký học cho chị L2 mà tiêu xài cho bản thân. Chị Nguyễn Thùy L2 yêu cầu D bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 13: Khoảng tháng 01/2019, anh Phạm Anh T2 (sinh năm: 1996,

HKTT: Tổ 04, phường Trung Thành, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có nhu cầu học cải thiện 10 môn: Nguyên lý 2, Hóa học, Tiếng việt thực hành, Hóa phân tích, Vật lý, Toán cao cấp, Giao đất thu hồi đất, ngoài ra còn 03 môn học khác bị điểm thấp. Thông qua anh Hoàng Văn Th, Tuấn biết D. Ngày 13/01/2019, anh T2 đã liên lạc với D, D tự giới thiệu tên Huy, sinh viên K43 chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên. Sau khi trao đổi D nói chi phí 245.000 đồng/01 môn. D bảo chỉ cần nộp tiền anh T2 sẽ không phải thi và được điểm tích A. Anh T2 đồng ý. Tối ngày 13/01/2019, tại quán internet sau trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên anh T2 đưa cho D 2.450.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 2.450.000 đồng để chạy điểm cho anh T2 mà tiêu xài cho bản thân. Anh Phạm Anh T2 yêu cầu D bồi thường số tiền 2.450.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 14: Ngày 05/01/2019, D sử dụng số điện thoại 036 6945 837 chủ

động liên lạc cho anh Dương Quý Ng (sinh năm: 1992, HKTT: Xóm ĐD, xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, Duy xưng tên là Huy, sinh viên K43 chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và có trao đổi là hiện đang học cải thiện một số môn học và đề nghị anh Ng nếu có nhu cầu học thêm thì đăng ký cùng để giảm chi phí. Do đang có nhu cầu học cải thiện hai môn: Phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi và Bạch truyền nhiễm, anh Ng đồng ý nhờ D đăng ký cải thiện 2 môn trên. D nói chi phí học mỗi môn 500.000 đồng. Do tin tưởng D, anh Ng đã đồng ý đưa cho D số tiền 1.000.000 đồng. Đến trưa cùng ngày tại nhà chính của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên anh Ng đưa cho D 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 1.000.000 đồng để đăng ký học cho anh Ng mà tiêu xài cho bản thân. Anh Dương Quý Ng yêu cầu D bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 15: Ngày 11/01/2019, anh Lục Văn M (sinh năm: 1995, HKTT:

Xóm LL, xã HP, huyện QU, tỉnh Cao Bằng) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên truy cập vào fan page “svnonglam.vn” đăng bài tìm người học cấp tốc cùng môn Tiếng anh 1, Hóa học, Hóa phân tích, Sinh học đại cương, Khoa học phong thủy để học cho kịp ra trường. Ngày 12/01/2019, D dùng tài khoản facebook tên “Tuyet Nguyen” nhắn tin cho anh M tự giới thiệu tên Huy, sinh viên K43 chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên hỏi anh M có muốn đăng ký học cùng không. D dùng số điện thoại 036 6945 837 liên lạc với anh M hẹn đến quán internet đường Việt Bắc thuộc phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên để trao đổi về đăng ký học. Ngày 12/01/2019 tại quán internet trên, anh M nhờ D đăng ký học cải thiện 05 môn học: Tiếng anh 1, Hóa học, Hóa phân tích, Sinh học đại cương, Khoa học phong thủy, D yêu cầu anh M đưa 2.200.000 đồng, anh M đưa trước cho D 500.000 đồng, hẹn hôm sau đưa số tiền còn lại. Đến khoảng 19 giờ ngày 12/01/2019, anh M đã đi đến khu vực Khách sạn Lý Tưởng trên đường Mỏ Bạch đưa số tiền 1.700.000 đồng cho D. D cam kết sau khi thi anh M sẽ được điểm cao theo như mong muốn. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 2.200.000 đồng để đăng ký học cho anh M mà tiêu xài cho bản thân. Anh Lục Văn M yêu cầu D bồi thường số tiền 2.200.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 16: Khoảng đầu tháng 01/2019, anh Hạng A G (sinh năm: 1995,

HKTT: Xã SP, huyện SP, tỉnh Lào Cai) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có nhu cầu học cải thiện môn Xác suất thống kê. Anh G vào trang fan page “svnonglam.vn” thấy bài viết đang muốn mở lớp cấp tốc để học môn xác suất thống kê của D. Anh G đã bình luận vào và để lại họ và tên, lớp, mã sinh viên. Khoảng 2 ngày sau, D đã dùng số điện thoại 036 6945 837 gọi cho anh G và nói có phải anh G muốn đi học cải thiện bộ môn xác suất thống kê hay không, lớp đang thiếu người, nếu anh G muốn học cùng thì D sẽ đăng ký hộ, lệ phí để mở lớp học là 500.000 đồng/ 1 người. Anh G đồng ý. Khoảng tháng 01/2019 tại nhà thi đấu của trường Đại học Thái Nguyên, anh G đưa cho D 500.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 500.000 đồng để đăng ký học cho anh G mà tiêu xài cho bản thân. Anh Hạng A G yêu cầu D bồi thường số tiền 500.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 17: Khoảng đầu tháng 01/2019, anh Nguyễn Mạnh Th2 (sinh

năm: 1996 HKTT: Xóm KL, xã HT, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên. Thông qua anh Hạng A G, anh Th2 biết D. Trong quá trình trao đổi D tự giới thiệu tên Huy, D nói có thể giúp đăng ký học cấp tốc cải thiện điểm và chắc chắn sẽ được điểm tích A. Do anh Th đang có 4 môn học: Xã hội học đại cương, Hóa học, Tiếng anh 1 và Xác suất thống kê muốn cải thiện điểm nên anh Th2 đã đồng ý nhờ D đăng ký. D yêu cầu anh Th2 đưa 2.300.000 đồng. Anh Th2 đồng ý. Đầu tháng 01/2019, tại nhà thi đấu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, anh Th2 đưa cho D 2.300.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 2.300.000 đồng để đăng ký học cho anh Th2 mà tiêu xài cho bản thân. Anh Nguyễn Mạnh Th2 yêu cầu D bồi thường số tiền 2.300.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 18: Khoảng tháng 11/2018, anh Lê Hoàng Anh T3 (sinh năm:

1996, HKTT: Xóm LB, xã LB, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên có mong muốn trả nợ đủ 06 môn học: Đinh dưỡng động vật, Bệnh truyền nhiễm, Công nghệ sinh sản, Bệnh lý, Tổ chức phôi thai, Phương pháp tiếp cận khoa học để kịp ra trường tốt nghiệp tháng 3/2019. Anh T3 đã lên trang fan page “svnonglam.vn” tìm các bài đăng liên quan đến đăng ký học. Khi thấy bài đăng của D, anh T3 đã để lại số điện thoại, tên lớp vào phần bình luận. Sau đó, D dùng số điện thoại 036 6945 837 gọi cho anh T3 để hỏi về việc đăng ký học lại. D xưng tên Huy, sinh viên K43 chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đang tìm người cần học cùng, D nói dối là có chị gái làm phó khoa kinh tế phát triển nông thôn, chỉ cần anh T3 đưa tiền cho D thì không cần đi học, không cần đi thi mà vẫn có điểm cao. Ngày 23/11/2018, D hẹn anh T3 đến cổng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên để trao đổi về việc học cải thiện, D yêu cầu anh T3 đưa cho D số tiền là 3.000.000 đồng/6 môn học (mỗi môn là 500.000 đồng). Đến 15 giờ 30 phút ngày 10/01/2019, anh T3 đã đưa cho D 1.500.000 đồng, 2 bản photo thẻ sinh viên, hẹn khi nào đi thi sẽ chuyển nốt số tiền còn lại. Tuy nhiên, D không dùng số tiền 1.500.000 đồng để “chạy” điểm cho anh T3 mà tiêu xài cho bản thân. Anh Lê Hoàng Anh T3 yêu cầu D bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vụ thứ 19: Khoảng tháng 01/2019, anh Nguyễn Hoàng V (sinh năm:

1994, HKTT: Khu 3A, thị trấn Ba Chẽ, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh) là sinh viên trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên. Thông qua bạn bè biết Nguyễn Văn D là người có thể “chạy: điểm nên anh V nhờ D đăng ký học lại và xin nâng điểm 05 môn học: Hóa học môi trường, Tiếng Anh 1, Giáo dục thể chất 1, Toán cao cấp 1, Tiếng Anh 2; Đăng ký học 04 môn: Thực tập tốt nghiệp, Tiếng Anh 3, Chứng chỉ IC3, Chứng chỉ A2 tương đương. D yêu cầu anh V đưa 25.000.000 đồng. Giữa tháng 01/2019 tại cổng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, anh V đã 3 lần giao tiền cho D với tổng số tiền 25.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất giao 8.000.000 đồng; Lần thứ hai giao 12.000.000 đồng; Lần thứ ba giao 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền D không dùng số tiền 25.000.000 đồng để đăng ký học và xin nâng điểm cho anh V mà tiêu xài cho bản thân. Nguyễn Văn D đã tự nguyện khắc phục cho anh V 2.000.000 đồng. Anh Nguyễn Hoàng V yêu cầu D bồi thường số tiền 23.000.000 đồng. Hiện D chưa bồi thường.

Vật chứng của vụ án: 01 giấy nhận tiền đề ngày 20/8/2017 thể hiện

Nguyễn Văn D nhận 65.500.000 đồng của chị Chu Huyền D2, Đặng Thị Hồng P, Hoàng Thị H, Dương Thị Thanh Nh. 01 giấy vay tiền đề ngày 20/7/2017 thể hiện Nguyễn Văn D vay 50.000.000 đồng của anh Đặng Thanh T.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSTPTN ngày 30/12/2019 của Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã mô tả.

Bị cáo thừa nhận tội danh và thống nhất với khung hình phạt như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố, không có oan, sai.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà L): Không yêu cầu D phải hoàn

trả cho bà số tiền bà đã bồi thường cho anh T thay Duy.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 174; Điểm b, s khoản 1Điều 51; điểm g

Khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn D từ 05 đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS năm 2015; Điều 357,

468; 584, 585, 586, 589 BLDS 2015: Buộc D phải bồi thường cho các bị hại tổng cộng 130.350.000đ. Cụ thể bồi thường cho: Anh Bùi Quảng Đ: 15.000.000 đồng; Anh Đào Đức T1: 2.600.000 đồng; Chị Đặng Thị Hồng P: 10.000.000 đồng; Chị Hoàng Thị H: 14.900.000 đồng; Chị Dương Thị Thanh Nh: 6.600.000 đồng; Chị Chu Huyền D2: 34.000.000 đồng; Anh Lùng Văn Đ1: 6.200.000 đồng; Anh Trần Văn Đ2: 1.600.000 đồng; Anh Hạng A G: 500.000 đồng; Chị Nguyễn Thùy L2: 2.500.000 đồng; Anh Dương Quý Ng: 1.000.000 đồng; Anh Lục Văn M: 2.200.000 đồng; Anh Nguyễn Mạnh Th2: 2.300.000 đồng; Anh Hoàng Văn Th: 4.000.000 đồng; Anh Lê Hoàng Anh T3: 1.500.000 đồng; Anh Phạm Anh T2: 2.450.000 đồng; Anh Đào Đức T1: 2.600.000 đồng; Anh Nguyễn Hoàng V: 23.000.000 đồng.

+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định

- Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, chỉ xin HĐXX xét xem cho

hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy

tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của

ngườ i bị hại, người làm chứng và phù hợp với những chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Do nợ nần và không có tiền tiêu xài, trong khoảng thời gian năm 2017 đến

năm 2019 tại địa bàn thành phố Thái Nguyên, Nguyễn Văn D đã thực hiện nhiều vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn: D dùng tài khoản Facebook “Tuyet Nguyen” và “Ga Rung” là các tài khoản do D lập ra, đăng tải nội dung “Hiện tại tôi có nhu cầu đăng ký môn học, ai có nhu cầu thì đăng ký để mở lớp”, truy cập vào các bài viết trên fan page có tên “svnonglam.vn” của nhóm của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên có nội dung tìm người đăng ký học cùng các môn học để lấy thông tin. Sau đó, D sử dụng số điện thoại 0366.945.837, tài khoản Facebook mang tên “Tuyet Nguyen”, “Ga Rung” để liên lạc với các bạn sinh viên có nhu cầu đăng ký chung môn học, đăng ký học cấp tốc, thi cải thiện, xin nâng điểm, D đưa ra các thông tin gian dối, tự giới thiệu tên giả là “Huy”, học khoa chăn nuôi thú y khóa K43, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và có mối quan hệ thân thiết với nhiều thầy cô giáo trong trường, có khả năng xin đăng ký và mở lớp học cho các sinh viên đang có nhu cầu học cải thiện, học cấp tốc chỉ cần đóng tiền không phải đi học, không phải đi thi vẫn đạt điểm loại khá, giỏi. Sau đó, D yêu cầu các sinh viên nộp chứng minh nhân dân, thẻ sinh viên bản phôtô và giao tiền trực tiếp cho Duy. Trên thực tế D không quen biết các thầy cô giáo cũng như không có khả năng đăng ký học cấp tốc, thi cải thiện, xin nâng điểm cho các sinh viên. Với phương thức, thủ đoạn như nêu trên, Nguyễn Văn D đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 19 sinh viên với tổng số tiền 184.450.000 đồng, cụ thể như sau: Anh Bùi Quảng Đ - 15.000.000 đồng, anh Đặng Thanh T - 50.000.000 đồng, chị Đặng Thị Hồng P - 10.000.000 đồng, chị Hoàng Thị H - 14.900.000 đồng, chị Dương Thị Thanh Nh

- 6.600.000 đồng, chị Chu Huyền D2 - 34.000.000 đồng, chị Phạm Thị B - 2.100.000 đồng, anh Lùng Văn Đ1 - 6.200.000 đồng, anh Trần Văn Đ2 - 1.600.000 đồng, anh Hạng A G - 500.000 đồng, chị Nguyễn Thùy L2 - 2.500.000 đồng, anh Dương Quý Ng - 1.000.000 đồng, anh Lục Văn M - 2.200.000 đồng, anh Nguyễn Mạnh Th2 - 2.300.000 đồng, anh Hoàng Văn Th - 4.000.000 đồng, anh Lê Hoàng Anh T3 - 1.500.000 đồng, anh Phạm Anh T2 - 2.450.000 đồng, anh Đào Đức T1 - 2.600.000 đồng, anh Nguyễn Hoàng V - 25.000.000 đồng.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo

chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS như bản cáo trạng truy tố là đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo đã dùng thủ đoạn

gian dối tạo lòng tin cho các bị hại về việc bị cáo có khả năng xin đăng ký và mở lớp học cho các sinh viên đang có nhu cầu học cải thiện, học cấp tốc chỉ cần đóng tiền không phải đi học, không phải đi thi vẫn đạt điểm loại khá, giỏi nhưng thực tế bị cáo không có khả năng này. Sau khi nhận tiền của các bị hại, bị cáo đã sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc cho nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

đối với các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn D là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự,

trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường một phần cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1Điều 51 BLHS. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015. Do đó, có cơ sở để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe đồng thời để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo tu dưỡng tốt để trở thành người lương thiện. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định,

không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 174 BLHS cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động

gia đình bồi thường cho anh Đặng Thanh T và chị Phạm Thị B xong, anh T, chị B không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo đã trả cho anh Nguyễn Hoàng V 2.000.000 đồng, anh V yêu cầu D bồi thường tiếp số tiền 23.000.000 đồng. Những bị hại khác cũng yêu cầu D phải trả số tiền đã lừa đảo. Xét thấy yêu cầu của các bị hại là có căn cứ. Do đó áp dụng Điều 48 BLHS năm 2015; Điều 357, 468; 584, 585, 586, 589 BLDS 2015, buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại là tổng số tiền D đã chiếm đoạt: Anh Bùi Quảng Đ:15.000.000 đồng; Anh Đào Đức T1: 2.600.000 đồng; Chị Đặng Thị Hồng P: 10.000.000 đồng; Chị Hoàng Thị H: 14.900.000 đồng; Chị Dương Thị Thanh Nh: 6.600.000 đồng; Chị Chu Huyền D2: 34.000.000 đồng; Anh Lùng Văn Đ1: 6.200.000 đồng; Anh Trần Văn Đ2: 1.600.000 đồng; Anh Hạng A G: 500.000 đồng; Chị Nguyễn Thùy L2: 2.500.000 đồng; Anh Dương Quý Ng: 1.000.000 đồng; Anh Lục Văn M: 2.200.000 đồng; Anh Nguyễn Mạnh Th2: 2.300.000 đồng; Anh Hoàng Văn Th: 4.000.000 đồng; Anh Lê Hoàng Anh T3: 1.500.000 đồng; Anh Phạm Anh T2: 2.450.000 đồng; Anh Đào Đức T1: 2.600.000 đồng; Anh Nguyễn Hoàng V: 23.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: 01 giấy nhận tiền đề ngày 20/8/2017 thể hiện

Nguyễn Văn D nhận 65.500.000 đồng của chị Chu Huyền D2, Đặng Thị Hồng P, Hoàng Thị H, Dương Thị Thanh Nh; 01 giấy vay tiền đề ngày 20/7/2017 thể hiện Nguyễn Văn D vay 50.000.000 đồng của anh Đặng Thanh T được lưu trong hồ sơ vụ án.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ

thẩm theo quy định.

Đối với chị Hoàng Thị H, chị Đặng Thị Hồng P, chị Dương Thị Thanh

Nh, chị Phạm Thị B, anh Hoàng Văn Th, anh Hạng A G là người đã giới thiệu Nguyễn Văn D cho những người bị hại khác. Quá trình điều tra xác định, chị H, chị P, chị Nh, chị B, anh Th, anh G không biết việc D thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Đối với, anh Nguyễn Văn Đ3 là người đã đưa cho Nguyễn Văn D 3.600.000 đồng của anh Lùng Văn Đ1. Quá trình điều tra, xác định anh Định không biết số tiền trên do Duy thực hiện hành vi lừa đảo mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn D còn khai nhận đã chiếm đoạt tiền

của 14 sinh viên khác với cùng thủ đoạn như nêu trên, hiện tại D không còn nhớ thông tin. Ngày 16/7/2019, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên có công văn số 3667/CSĐT đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng thông báo tìm bị hại trong vụ án. Tuy nhiên đến nay chưa có công dân nào gửi đơn đến Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Thái Nguyên trình báo nên không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn D về hành vi chiếm đoạt tiền của các sinh viên khác. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1

Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Văn D 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2019.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS năm 2015: Quyết định tạm giam bị cáo 45

ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 BLHS năm 2015; Điều 357,

468; 584, 585, 586, 589 BLDS 2015, buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 130.350.000đ (Một trăm ba mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), cụ thể:

- Anh Bùi Quảng Đ: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng);

- Chị Đặng Thị Hồng P: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng);

- Chị Hoàng Thị H: 14.900.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm nghìn đồng);

- Chị Dương Thị Thanh Nh: 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng);

- Chị Chu Huyền D2: 34.000.000 đồng (Ba mươi tư triệu đồng);

- Anh Lùng Văn Đ1: 6.200.000 đồng (Sáu triệu đồng);

- Anh Trần Văn Đ2: 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng);

- Anh Hạng A G: 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);

- Chị Nguyễn Thùy L2: 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng);

- Anh Dương Quý Ng: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng);

- Anh Lục Văn M: 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng);

- Anh Nguyễn Mạnh Th2: 2.300.000 đồng(Hai triệu ba trăm nghìn đồng);

- Anh Hoàng Văn Th: 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng);

- Anh Lê Hoàng Anh T3: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng);

- Anh Phạm Anh T2: 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn

đồng);

- Anh Đào Đức T1: 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng);

- Anh Nguyễn Hoàng V: 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng);

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật, các bị hại có đơn đề nghị thi

hành án mà bị cáo không tự nguyện thi hành án, thì phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH

13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 6.517.500 đồng (Sáu triệu năm trăm mười bẩy nghìn năm trăm đồng) án phí DSST vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ