vanban.org

Bản án 71/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Xuân T - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hìnhsự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2020/HSST
Ngày: 12-6-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Văn Thành

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Vinh

Ông Lê Minh Trực

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2020/HSST-QĐ ngày 04 tháng 05 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2020/HSST-QĐ ngày 19 tháng 05 năm 2020 đối với bị cáo:

Đào Xuân T, sinh ngày 15/4/1988, tại huyện Triệu S, tỉnh Thanh H.

Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Thôn Đô Qu, xã An N, huyện Triệu S, tỉnh Thanh H; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ Công an huyện Triệu S; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Đào Xuân Gi, sinh năm 1951; con bà: Hoàng Thị D (đã chết); có vợ: Trịnh Thị L, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con: Có 01 người con, sinh năm 2015;Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2019 đến ngày 16/8/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa cho đến nay. Có mặt

Người bị hại: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn Hoành S, xã Cát S, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Anh Lê Thanh Đ, sinh năm 1983; Phó giám đốc Ngân hàng – TMCP ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Nghi S – thuộc thôn Nam Y, xã Hải Y, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H. Vắng mặt

- Anh Đỗ Văn D, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm 6, xã Đông M, huyện Đông S, tỉnh Thanh H. Vắng mặt

Người làm chứng:

- Anh Lê Hữu B, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn Nam Y, xã Hải Y, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H.

- Chị Trịnh Thùy L, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn Đô Qu, xã An N, huyện Triệu S, tỉnh Thanh .

- Anh Đào Xuân L, sinh năm 1975; Địa chỉ: thôn Đô Qu, xã An N, huyện Triệu S, tỉnh Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 25/7/2019, sau khi tham gia đi diễn tập phương án phòng thủ A2 tại xã Minh D, huyện Triệu S, tỉnh Thanh H xong, thì Đào XuânT (nguyên là cán bộ Công an huyện Triệu S) đi về nhà mình thay quần áo diễn tập, mặc quần vải màu đen, áo khoác gió màu sữa, đi găng tay, bịt khẩu trang, đội mũ bảo hiểm trùm đầu, mang theo 01 ba lô màu đen và 01 khẩu súng loại súng K59, cùng với 08 viên đạn đã được lắp sẵn trong súng (T khai nhặt được khẩu súng, cùng một số đạn vào ngày 21 hoặc 22/7/2019 trên đường đi Sân bay Sao V - Nghi S, thuộc xã Xuân D, huyện Như Th, tỉnh Thanh H, mang về để góc bếp nhà mình cất giấu. Đào Xuân T lấy BKS 37P2-7325 (biển kiểm soát giả) ốp, lắp đè ra bên ngoài biển kiểm soát 36B4-67709 của xe mô tô Exciter màu trắng - đỏ - đen (xe này T mua vào năm 2016 của anh Đỗ Văn D, sinh năm 1989 ở xóm 6, xã Đông M, huyện Đông S, tỉnh Thanh H).

Đến khoảng 09h15’ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô từ nhà, đi theo đường Sao V - Nghi S đến thị trấn huyện Tĩnh Gi để tìm chị Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1981 ở thôn 7, xã Tân Tr, huyện Tĩnh Gi để đòi số tiền nợ nhưng T không nhớ nhà chị B, gọi điện thoại thì không liên lạc được. Đến 11 giờ 15 phút, cùng ngày Đào Xuân T điều khiển xe mô tô đi vào trong khu vực Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương (Vietcombank) chi nhánh Nghi S thuộc xã Hải Y, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H. Khi dừng xe tại khu vực gửi xe của Ngân hàng, T quay đầu xe hướng ra ngoài đường rồi đi vào trong cây ATM, lúc này T vẫn đội mũ bảo hiểm trùm đầu, bịt khẩu trang, đeo găng tay. Khoảng 5 giây sau, Đào Xuân T mở cửa đi vào khu vực quầy giao dịch bên trong Ngân hàng, khi đến cửa ra vào, thấy ông Lê Hữu B, sinh năm 1965 ở thôn Nam Y, xã Hải Y, huyện Tĩnh Gi tỉnh Thanh H (là bảo vệ ngân hàng) đang ngồi ở bên hông phải cửa ra vào, T kéo ông Bảo ra phía trước cửa ra vào rồi rút súng từ trong ba lô ra đe dọa ông B, đẩy ông B vào khu vực cửa bên trong, nhìn thấy sự việc anh Phạm Văn B, sinh năm 1979 ở thôn Hoành S, xã Các S, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H (là bảo vệ ngân hàng) đang ngồi ở khu vực bên trong cửa đứng dậy thì bị Tư dùng súng uy hiếp. T cầm súng bắn 01 phát xuống nền gạch bên trong ngân hàng, yêu cầu anh B tránh sang một bên và tiếp tục chĩa súng vào ông B và anh B, rồi dùng chân đạp vào chân anh B. Trong lúc giằng co anh B bị T bắn 01 phát sượt vào đùi trái. Do gặp sự phản kháng quyết liệt của anh B nên T lùi ra phía ngoài cửa Ngân hàng và bắn một phát nữa vào phía cửa ngân hàng để ngăn cản sự truy đuổi của anh B rồi lên xe mô tô bỏ chạy theo hướng Bắc - Nam. Khi đi đến đoạn đường Nghi S - Sao V thì Đào Xuân T rẽ phải hướng đi huyện Triệu S. Khi về nhà Tư cởi quần áo, găng tay, khẩu trang, giầy, tất, mũ bảo hiểm, biển kiểm soát xe mô tô giả, bỏ vào bên trong túi ni lông đen rồi mang ra cầu Gia Ph, cách nhà T khoảng 1km, dốc hết đồ trong túi ném xuống sông.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đào Xuân T mang khẩu súng K59 cùng 05 viên đạn T bỏ vào một túi bóng ni lông mang ra bờ ao của gia đình đào một lỗ đường kính khoảng 20cm rồi lấp đất, lấy lá cây đậy lên để ngụy trang, che giấu vũ khí (vị trí cất dấu ở khu vực góc tường cuối bờ ao, cách cổng nhà T khoảng 03m).

Ngày 07/8/2019, Đào Xuân T đã chỉ cho chị Trịnh Thùy L, sinh năm 1992 ở xã An N, huyện Triệu S, tỉnh Thanh H (là vợ cũ của T) vị trí cất dấu khẩu súng cùng 05 viên đạn, chị L đã tìm thấy ở vị trí nêu trên và giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh H.

Sau khi bị bắn anh Phạm Văn B được mọi người đưa đi băng bó vết thương tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hợp Lực huyện Tĩnh Gi. Tại bản xem xét dấu vết trên thân thể anh B thể hiện: Tại vị trí 1/3 dưới trước đùi phải có 01 vết thương rách da chảy máu, kích thước 5,5 cm và anh B có đơn từ chối giạm định thương tích và không yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại.

Ngày 07/8/2019 Đào Xuân T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh H xin đầu thú và khai báo hành vi phạm tội của mình.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Nơi xảy ra sự việc là tại khu vực Ngân hàng thương mại Cổ phần ngoại thương Vietcombank thuộc thôn Nam Y, Hải Y Tĩnh Gi, Thanh H.

Khu vực Ngân hàng thương mại Cổ phần ngoại thương Vietcombank xây dựng kiên cố gồm 06 tầng. Tầng một là khu giao dịch có cửa mở hướng Đông ra đường dân sinh thôn Nam Y, Hải Y và đường QL1A phía Bắc giáp nhà anh Lê Hữu D, phía Nam là khu vực bãi đất trống.

Từ đường dân sinh đi vào tầng 1 ngân hàng Vietcombank là vỉa hè được lát nền đá đỏ, đi tiếp vào là 01 cửa kính 02 cánh rộng 3m50, đi vào trong phía Bắc là phòng ngân quỹ; phía Nam là phòng dịch vụ khách hàng tiền sảnh của tầng 1 ngân hàng Vietcombank, kích thước (12 x 4,5)m, mặt nền lát gạch men, phía Tây là khu vực nhà vệ sinh.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường, tại vị trí vỉa hè phía trước Ngân hàng Vietcombank phát hiện 02 vỏ đạn màu vàng và mảnh vỡ kim loại màu bạc, cách cánh cửa ra vào phía Bắc 1m35 kí hiệu (1); cách 2m40 về phía cửa ra vào của Ngân hàng Vietcombank là vị trí mảnh vỡ kim loại màu vàng kí hiệu (2); cách 0m52 về phía Tây là vị trí 01 mảnh vỏ đạn màu vàng kí hiệu (3), từ vị trí số (3) về phía Tây sảnh 5m50 là vị trí mảnh vỡ kim loại màu vàng kí hiệu số (4); cách 5m về phía Tây là vị trí mảnh vỡ kim loại màu bạc kí hiệu (5) từ vị trí này cách 3m50 về phía Bắc là vị trí mảnh vỡ kim loại màu bạc kí hiệu số (6); tại vị trí sát tường Nam gần cửa ra vào phòng dịch vụ khách hàng có mảnh vỡ kim loại màu bạc kí hiệu (7)

Dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được tại hiện trường:

- Vị trí số 1: 01 vỏ đạn kích thước đặc điểm như nhau có kích thước (0,9 x 1,8)cm có dòng chữ S&B 149x18; 01 mảnh kim loại màu xám bạc kích thước (1,1x1)cm; 01 mảnh kim loại màu bạc - đồng kích thước (0,8x0,8)cm.

- Vị trí số 2: 01 mảnh kim loại màu đồng kích thước (2,1x1)cm; 01 mảnh kim loại màu đồng kích thước (1,1x0,9)cm.

- Vị trí số 3: 01 vỏ đạn có khắc dòng chữ SxB 149x18.

- Vị trí số 4: 01 mảnh kim loại màu đồng kích thước (1,5x1,1)cm.

- Vị trí số 5: 01 mảnh kim loại màu xám bạc kích thước (1x0,9)cm.

- Vị trí số 6: 01 mảnh kim loại màu xám bạc kích thước (1,2x0,8)cm.

- Vị trí số 7: 01 mảnh kim loại màu xám bạc kích thước (1,8x1,6)cm.

Tại Bản kết luận giám định số 1921/PC09 ngày 16/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, dài 19,5cm, không rõ số ký hiệu, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu và có hình ngôi sao năm cánh nằm trong vòng tròn trong vụ án gửi đến giám định là súng quân dụng K59- thuộc loại vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng này còn sử dụng bắn được;

- 05 viên đạn bằng kim loại màu vàng, có số kí hiệu “S&B 149X18” loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm - thuộc loại vũ khí quân dụng;

- 03 vỏ đạn có số ký hiệu “S&B 149X18”, ghi thu tại hiện trường trong vụ án đều là vỏ đạn loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm - thuộc loại vũ khí quân dụng và do khẩu súng gửi đến giám định bắn ra.

Tại Bản kết luận giám định số 2121/PC09 ngày 17/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 03 mảnh kim loại màu vàng bị móp méo ghi thu tại hiện trường trong vụ án xảy ra ngày 25/7/2019 tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam chi nhánh Nghi S, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H là do khẩu súng gửi đến giám định bắn ra.

Tại Bản kết luận giám định số 1976/PC09 ngày 26/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận về số nguyên thủy (số seri) của khẩu súng mà Đào Xuân T sử dụng như sau: Số nguyên thủy (số seri) của khẩu súng đã bị tẩy xóa, không xác định được (không còn khả năng khôi phục)

* Phần bồi thường dân sự:

Ngày 24/02/2020 anh Đào Xuân L, sinh năm 1975 (là anh trai bị cáo) đã bồi thường số tiền 4.000.000đ, tiền thuốc điều trị cho anh B. Do vết thương nhẹ đã ổn định nên anh B từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về phần dân sự

Ngày 25/7/219 anh Lê Thanh Đ, sinh năm 1983 là phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Nghi S được giám đốc Ngân hàng Nguyễn Xuân Qu ủy quyền đại diện báo cáo thì Ngân hàng không bị mất tài sản gì nên không có yêu cầu bồi thường về phần dân sự và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 khẩu súng nhãn hiệu K59, dài 19,5cm, không rõ số ký hiệu, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu và có hình ngôi sao năm cánh nằm trong vòng tròn trong.

- 05 viên đạn bằng kim loại màu vàng, có số kí hiệu “S&B 149X18” loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm.

- 03 vỏ đạn có số ký hiệu “S&B 149X18”, vỏ đạn của loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm.

- 01 (một) xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Yamaha Exciter 150RC màu trắng, đỏ đen BKS 36B4-67709, số khung: 0610FY 096940, số máy: G3P4B1 08909. Không kiểm tra chất lượng xe.

- 01(một) gương chiếu hậu xe máy, mặt sau có màu đỏ đen có dòng chữ nổi XYAMAHA.

- 01(một) Tua vít 04 cạnh đã qua sử dụng, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm. Cạnh tua vít có nhiều vết hoen rỉ.

- 10(mười) đoạn dây chít nhựa màu trắng dài 30cm.

- 01(một) Biển kiểm soát 37P2-7325, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng thật giả. Biển kiểm soát đã được bẻ gập đôi hướng mặt số ra ngoài.

- 01 thẻ ATM màu tím của ngân hàng Công thương việt Nam, cấp tháng 5/2019 chủ thẻ là Đào Xuân T.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-P2 ngày 18/03/2020,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Đào Xuân T về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304; điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh H luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố hành vi phạm tội của bị cáo T theo nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Đào Xuân T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 55 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đào Xuân T 12 tháng tù về tội“Tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng” và từ 05 đến 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Ghi ngận sự tự nguyện thảo thuận số tiền 4.000.000đ đã bồi thường cho anh Phạm Văn B; Về xử lý vật chứng, án phí đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tại phiên tòa bị cáo Đào Xuân T không tranh luận về tội danh, điều luật, bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại; Năm 2016 đã cung cấp thông tin cho Công an huyện Triệu S về đối tượng Trần Đình Th, sinh năm 1989 ở tại thôn Vĩnh Trù 2, xã An N, huyện Triệu S, tỉnh Thanh H về hành hiếp dâm trẻ em và vụ án được khởi tố, truy tố, xét xử; Trong thời gian công tác được ngành Công an tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, Giấy khen và có bố là ông Đào Xuân Gi được Nhà nước tặng thưởng huân chương chống Mỹ cứu nước. Sau khi phạm tội đã đến Công an tỉnh Thanh H đầu thú khai báo hanh vi phạm tội của mình nên được hưởng các tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để sớm quay về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá; điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa; kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đào Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định; phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng và tài liệu khác có trong hồ sơ hoàn toàn phù hợp khách quan với các chứng cứ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 25/7/2019, Đào Xuân T (nguyên là cán bộ Công an huyện Triệu S) đi diễn tập về nhà mình thay quần áo diễn tập, mặc quần vải, áo khoác gió, đi găng tay, bịt khẩu trang, đội mũ bảo hiểm trùm đầu, mang theo 01 ba lô, 01 khẩu súng K59 và 08 viên đạn, lấy BKS 37P2-7325 (Biển kiểm soát giả) ốp, lắp đè ra bên ngoài biển kiểm soát 36B4-67709 của xe mô tô Exciter rồi đi đến thị trấn huyện Tĩnh Gi. Đến 11 giờ 15 phút cùng ngày, Đào Xuân T đi vào Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương (Vietcombank) chi nhánh Nghi Sơn thuộc xã Hải Y, huyện Tĩnh Gi, tỉnh Thanh H, mở cửa đi vào khu vực quầy giao dịch rút súng ra, đẩy ông B vào bên trong, anh B chạy đến ngăn cản thì bị Tư dùng súng bắn 01 phát xuống nền gạch, dùng chân đạp vào chân anh B và bắn 01 phát sượt qua đùi trái anh B, bắn một phát vào phía cửa Ngân hàng rồi lên xe mô tô bỏ chạy. Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Hành vi của bị cáo Đào Xuân T đã phạm tội “Tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng” và tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304; điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân, của cơ quan, tổ chức; xâm phạm đến sự hoạt động của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, bị cáo sử dụng súng bắn nhiều phát thể hiện rõ việc dùng vũ lực làm tê liệt ý chí của chủ tài sản, nhằm thực hiện hành vi cướp tài sản do có sự chống trả quyết liệt của bảo vệ ngân hàng nên bị cáo không lấy được là ngoài ý muốn. Vì vậy, cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về các tình tiết, giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có; tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả với tổng số tiền là 4.000.00đ đồng, thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; Năm 2016 đã cung cấp thông tin cho Công an huyện Triệu S về đối tượng Trần Đình Th, sinh năm 1989 ở tại thôn Vĩnh Trù 2, xã An N, huyện Triệu S, tỉnh Thanh H về hành hiếp dâm trẻ em và vụ án được khởi tố, truy tố, xét xử (người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm); Trong thời gian công tác được ngành Công an tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang; Giấy khen và có bố là Đào Xuân Gi được Nhà nước tặng thưởng huân chương chống Mỹ cứu nước; Sau khi phạm tội đã đến Công an tỉnh Thanh H đầu thú khai báo hanh vi phạm tội của mình nên được hưởng các tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thương của người bị hại anh Phạm Văn B số tiền 4.000.000đ, anh B không có yêu cầu bị cáo Đào Xuân T bồi thường thêm khoản tiền gì.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Yamaha Exciter 150RC màu trắng, đỏ đen BKS 36B4-67709, số khung: 0610FY 096940, số máy: G3P4B1 08909; Không kiểm tra chất lượng xe; 01(một) gương chiếu hậu xe máy, mặt sau có màu đỏ đen có dòng chữ nổi XYAMAHA, là công cụ phương tiện phạm tội có giá trị sử dụng nên tich thu sung công quỹ Nhà Nước.

- 01 khẩu súng nhãn hiệu K59, dài 19,5cm, không rõ số ký hiệu, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu và có hình ngôi sao năm cánh nằm trong vòng tròn trong; 05 viên đạn bằng kim loại màu vàng, có số kí hiệu “S&B 149X18” loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm là đồ vật liên quan của vụ án có giá trị sử dụng, giao cho bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa quản lý, xử lý theo thẩm quyền.

- 01 thẻ ATM màu tím của ngân hàng Công thương việt Nam, cấp tháng 5/2019 chủ thẻ là Đào Xuân T, không liên quan đến vụ án trả lại cho bị cáo Đào Xuân T.

- 01(một) Tua vít 04 cạnh đã qua sử dụng, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, cạnh tua vít có nhiều vết hoen rỉ; 10(mười) đoạn dây chít nhựa màu trắng dài 30cm; 03 vỏ đạn có số ký hiệu “S&B 149X18”, vỏ đạn của loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm; 01(một) Biển kiểm soát 37P2-7325, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng thật giả. Biển kiểm soát đã được bẻ gập đôi hướng mặt số ra ngoài, là đồ vật liên quan của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

Đối với khẩu súng K59 cùng số đạn, T khai nhặt được trên đường đi Sao Và

- Nghi S, thuộc xã Xuân D, huyện Như Th, tỉnh Thanh H. Kết quả giám định số hiệu của khẩu súng đã bị tẩy xóa nên không đủ căn cứ truy tìm nguồn gốc của khẩu súng để xử lý đối với tổ chức, cá nhân liên quan.

Đối với hành vi gây thương tích cho anh Phạm Văn B, anh B có đơn từ chối giám định thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh H không xử lý hình sự đối với Đào Xuân T và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 2; Điều 6; Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định lệ phí, án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Xuân T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”

2. Về hình phạt:Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 168; khoản 1 Điều 304; điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Xuân T 05 (năm) năm tù tội “Cướp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung hai tội là 06 (sáu) năm tù, thời hạn thi hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/8/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hìnhsự.

*Tịch thu cho tiêu hủy: 01(một) Tua vít 04 cạnh đã qua sử dụng, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm. Cạnh tua vít có nhiều vết hoen rỉ; 10(mười) đoạn dây chít nhựa màu trắng dài 30cm; 03 vỏ đạn có số ký hiệu “S&B 149X18”, vỏ đạn của loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm; 01(một) Biển kiểm soát 37P2-7325, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng thật giả

*Tịch thu:

- 01 (một) xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Yamaha Exciter 150RC màu trắng, đỏ đen BKS 36B4-67709, số khung: 0610FY 096940, số máy: G3P4B1 08909. Không kiểm tra chất lượng xe; 01(một) gương chiếu hậu xe máy, mặt sau có màu đỏ đen có dòng chữ nổi XYAMAHA, là công cụ phương tiện phạm tội có giá trị sử dụng nên tich thu sung công quỹ Nhà Nước.

- 01 khẩu súng nhãn hiệu K59, dài 19,5cm, không rõ số ký hiệu, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu và có hình ngôi sao năm cánh nằm trong vòng tròn trong; 05 viên đạn bằng kim loại màu vàng, có số kí hiệu “S&B 149X18” loại đạn quân dụng cỡ 9x18mm là đồ vật liên quan của vụ án có giá trị sử dụng, giao cho bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa quản lý, xử lý theo thẩm quyền

*Trả lại cho bị cáo Đào Xuân T: 01 thẻ ATM màu tím của ngân hàng Công thương việt Nam, cấp tháng 5/2019 mang tên Đào Xuân T.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-KSV-P2 ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát dân tỉnh Thanh Hóa).

5. Về án phí: Bị cáo Đào Xuân T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ