vanban.org

Bản án 71/2020/HS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn ông Bùi Thanh T. Về con chung: Giao con chung là Bùi Duy K, sinh ngày 06/10/2016 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông Bùi Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Phạm Thị T không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị T và Bùi Thanh T Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 71/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30-9-2020
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và ông Huỳnh Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 228/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67b/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1992, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1989, vắng mặt.

Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:

Bà Phạm Thị T và ông Bùi Thanh T tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2015, đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có tổ chức đám cưới. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau dẫn đến hay cãi nhau, đánh nhau và ông T hiện nay đang sống chung với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai, mặc ai nấy sống. Nay bà T nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông T được nữa. Vì vậy bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà T và ông T có 01 người con chung là Bùi Duy K, sinh ngày 06/10/2016. Cháu Khải hiện nay đang ở với bà T. Bà T yêu cầu được nuôi cháu Khải cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về ý kiến của bị đơn ông Bùi Thanh T: Trong quá trình tố tụng ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.

- Theo Biên bản xác minh ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền tại Ban ấp Phước Lộc, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, có nội dung như sau: Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1989 có hộ khẩu thường trú tại Ấp Rạch Lùm A, xã Khánh Hưng, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ông T hiện nay đang cư trú tại 32 tổ 16, ấp Phước Lộc, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vợ ông T là bà Phạm Thị T, vợ chồng ông T không còn sống chung với nhau nữa. Về mâu thuẫn vợ chồng ông T là gì thì ban ấp không rõ.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T giao 1 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Bùi Thanh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông T là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông T và bà T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T xác nhận bà T và ông T có 01 người con chung là Bùi Duy K, sinh ngày 06/10/2016. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Khải và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Khải đang ở với bà T, mặt khác ông T không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với bà T nên không biết nguyện vọng của ông T, nên chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Khải cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn ông Bùi Thanh T.

- Về con chung: Giao con chung là Bùi Duy K, sinh ngày 06/10/2016 cho bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông Bùi Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Phạm Thị T không yêu cầu.

Ông Bùi Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Phạm Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0407 ngày 20/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà T đã nộp xong.

3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (30/9/2020) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Huỳnh Minh

Đỗ Hữu Trí

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ